Thư điện tử  |  Sơ đồ trang  |  Diễn đàn  |  Liên hệ  |  English  |  Đăng Nhập
Nghiên cứu - Trao đổi

Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết TW 5 (Khoá IX) về kinh tế tập thể

09:41-17/04/2008

Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết báo cáo 5 năm tình hình thực hiện Nghị quyết 13-NQ/TW Hội nghị Trung ương 5 (Khoá IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể (sau đây gọi tắt là Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) về kinh tế tập thể hoặc Nghị quyết) với các nội dung như sau:

BÁO CÁO TỔNG KẾT

5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khoá IX)

về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể

(Báo cáo số 1027-BC/BCĐTK ngày 10/12/2007 của Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết TW 5 (Khoá IX về kinh tế tập thể )

 Triển khai thực hiện Kết luận số 08-KL/TW ngày 14/12/2006 của Ban Bí thư và trên cơ sở báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 13-NQ/TW Hội nghị Trung ương 5 (Khoá IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể của Ban cán sự đảng các bộ, ngành, các tỉnh uỷ, thành uỷ, kết quả khảo sát của 5 đoàn tại các địa phương và báo cáo sơ kết thực hiện Nghị quyết 1 năm, 3 năm, Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết báo cáo 5 năm tình hình thực hiện Nghị quyết 13-NQ/TW Hội nghị Trung ương 5 (Khoá IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể (sau đây gọi tắt là Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) về kinh tế tập thể hoặc Nghị quyết) với các nội dung như sau:

I. KẾT QUẢ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP ĐÃ XÁC ĐỊNH TRONG NGHỊ QUYẾT TW 5 (KHOÁ IX) VỀ KINH TẾ TẬP THỂ

1. Lãnh đạo thực hiện Nghị quyết của Ban Cán sự đảng các bộ, ngành Trung ương, cấp uỷ đảng các địa phương

      Việc lãnh đạo triển khai Nghị quyết đã được các cấp uỷ và tổ chức Đảng quan tâm thực hiện, một số địa phương đã làm nghiêm túc và có kết quả:

+ Về tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết: Thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TW ngày 08/4/2002 của Ban Bí thư về việc nghiên cứu quán triệt và tổ chức thực hiện các nghị quyết Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương, các đảng bộ trực thuộc Trung ương đã tổ chức nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) đã biên soạn tài liệu hướng dẫn, tổ chức hội nghị ở khu vực Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cho các đồng chí cán bộ chủ chốt các bộ, ngành và cán bộ cấp cục, vụ, viện; tổ chức 7 lớp phổ biến Nghị quyết cho lãnh đạo Ban Tuyên giáo, báo cáo viên của các tỉnh, thành phố. Ban Cán sự đảng các bộ, ngành Trung ương phối hợp với Đảng uỷ khối và Đảng uỷ cơ quan tổ chức quán triệt Nghị quyết cho cán bộ, đảng viên trong đơn vị mình. Sau 3 tháng, các đảng bộ khối cơ quan Trung ương đã tổ chức quán triệt cho hơn 90% cán bộ, đảng viên([1]).

Ở địa phương, trên cơ sở tiếp thu Nghị quyết, các tỉnh uỷ, thành uỷ đã xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết và tổ chức hội nghị triển khai trong cán bộ chủ chốt của địa phương. Sau đó, Nghị quyết và chương trình hành động của các tỉnh uỷ, thành uỷ được các cấp uỷ tổ chức nghiên cứu, quán triệt trong nội bộ Đảng và hệ thống chính trị; Mặt trận và các đoàn thể phối hợp với Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ, thành uỷ tổ chức các đợt tuyên truyền trong hội viên, đoàn viên và các tầng lớp nhân dân. Kết quả sau 6 tháng từ khi có Nghị quyết ở Cần Thơ có 96%, Kiên Giang - 94,54%, Hà Giang - 93,7%, Đồng Tháp - 96,67%, Thái Bình - 97%, Hải Phòng - 95%, thành phố Hồ Chí Minh - 91,4%... đảng viên tham dự học tập, hàng trăm ngàn lượt quần chúng được tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết.

     Năm năm qua, nội dung Nghị quyết cùng với Luật HTX năm 2003 cũng đã được các cấp, các ngành phối hợp tổ chức trong các lớp bồi dưỡng, đào tạo cán bộ quản lý HTX, liên hiệp HTX.

+ Về các chương trình hành động thực hiện Nghị quyết: Chính phủ đã ban hành Quyết định số 94/2002/QĐ-TTg, ngày 17/7/2002 về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, phân công các bộ, ngành có kế hoạch thể chế hoá các nội dung Nghị quyết. Ở các địa phương, tổng hợp trên 61 tỉnh, thành phố, đã có 102 văn bản của các tỉnh uỷ, thành uỷ (45 chương trình hành động, 23 nghị quyết, 4 quyết định, 10 chỉ thị, 16 kế hoạch, 4 đề án); 12 nghị quyết, chương trình hành động của Hội đồng nhân dân, 162 văn bản của Uỷ ban nhân dân và 39 văn bản khác để chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết.

+  Công tác chỉ đạo kiểm tra, sơ kết, tổng kết thực hiện Nghị quyết: ở Trung ương, Ban Kinh tế Trung ương (trước đây) đã phối hợp với Ban cán sự đảng Chính phủ, Đảng đoàn Liên minh HTX Việt Nam, Ban cán sự đảng các bộ, ngành Trung ương và địa phương tổ chức kiểm tra, sơ kết 1 năm thực hiện Nghị quyết, sơ kết 3 năm về kinh tế tập thể trong lĩnh vực nông nghiệp và đã có các báo cáo trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị 22/2003/CT-TTg ngày 03/10/2003 về tiếp tục thúc đẩy việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá IX) về kinh tế tập thể. Ban cán sự đảng các Bộ Giao thông vận tải, Thương mại, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thuỷ sản, Công nghiệp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tổ chức các hội nghị đánh giá kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết gắn với công tác tổng kết và nhân rộng các mô hình HTX trong từng ngành, lĩnh vực.

Ở địa phương, nhiều tỉnh, thành phố tiếp tục củng cố và thành lập Ban chỉ đạo đổi mới, phát triển kinh tế tập thể với các tên gọi khác nhau. Có 34/64 tỉnh, thành phố có Ban chỉ đạo. Công tác sơ kết, tổng kết thực hiện Nghị quyết cũng được các tỉnh, thành phố quan tâm (qua báo cáo của 60 tỉnh, thành phố có 21/60 tỉnh, thành phố đã tiến hành sơ kết 1 năm, 21/60 - sơ kết 2 năm, 36/60 – sơ kết 3 năm và 4/60 – sơ kết 4 năm; trong đó có 23 tỉnh, thành phố đã sơ kết 2 lần trở lên, Sơn La, Hà Nội, Thanh Hoá, Thừa Thiên - Huế, Kon Tum, Đắc Lắc, Bình Dương – 3 lần trở lên).

Thực hiện Kết luận 08-KL/TW, ngày 14/12/2006 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, đến 20/9/2007 có 48 tỉnh uỷ, thành uỷ, 11 Ban Cán sự đảng các bộ, ngành ở Trung ương đã báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết. Nhiều tỉnh, thành phố như Phú Thọ, Phú Yên, Gia Lai, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Kiên Giang, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tiền Giang... tiến hành tổng kết từ cơ sở với nội dung cụ thể, thiết thực.

+ Về củng cố và xây dựng tổ chức đảng trong các HTX: Ban Bí thư đã ban hành Quy định số 164/QĐ-TW, ngày 15/4/2006 về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các HTX, Liên hiệp HTX. Ban Tổ chức Trung ương đã hướng dẫn cụ thể việc xây dựng và củng cố tổ chức Đảng trong HTX theo quy định của Ban Bí thư.

Tuy nhiên, công tác quán triệt và chỉ đạo khai thực hiện Nghị quyết còn nhiều hạn chế, chưa đạt yêu cầu, cụ thể là:

+ Việc tổ chức nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá IX) về kinh tế tập thể chưa sâu sắc, nặng về phổ biến nội dung, có nơi mang tính hình thức, phần lớn là lồng ghép với việc phổ biến nội dung của cả các nghị quyết khác nên chất lượng chưa cao; có nơi thiếu nghiêm túc; phần lớn chỉ phổ biến đến đội ngũ cán bộ chủ chốt ở huyện, xã; Nghị quyết chưa được phổ biến tới nhiều HTX, xã viên và đông đảo tầng lớp nhân dân.

+ Nhiều cấp uỷ đảng chưa coi trọng việc chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể là nhiệm vụ trọng tâm và thường xuyên; chương trình hành động, kế hoạch hoặc đề án của nhiều cấp uỷ triển khai thực hiện Nghị quyết thiếu nội dung cụ thể, thiếu phân công và xác định trách nhiệm rõ ràng; trong báo cáo chính trị của đại hội đảng bộ nhiều tỉnh, thành phố nhiệm kỳ qua đề cập đến nhiệm vụ phát triển kinh tế tập thể còn mờ nhạt, có một số địa phương không có nội dung về phát triển kinh tế tập thể; có nơi vừa lúng túng vừa buông lỏng chỉ đạo của cấp uỷ đối với kinh tế tập thể. Có 30 tỉnh không có Ban chỉ đạo về đổi mới, phát triển HTX; ở những địa phương có thành lập thì hoạt động của không ít Ban chỉ đạo còn mang tính hình thức và hoạt động thiếu nội dung cụ thể, hiệu quả thấp (chưa phân công rõ trách nhiệm của từng thành viên Ban chỉ đạo, các nhiệm vụ chỉ đạo và kiểm tra của Ban chỉ đạo chưa thường xuyên).

+ Đến cuối năm 2006 còn 11 tỉnh chưa sơ kết thực hiện Nghị quyết lần nào (Hoà Bình, Điện Biên, Lai Châu, Quảng Ninh, Cao Bằng, Hải Dương, Đà Nẵng, Tây Ninh, An Giang, Long An). Một số địa phương tuy có tiến hành sơ kết, tổng kết theo chỉ đạo của Trung ương, nhưng làm hình thức, không sâu sắc và sau sơ kết, tổng kết chưa xây dựng được chương trình, biện pháp cụ thể để khắc phục các tồn tại, khó khăn của kinh tế tập thể.

          + Việc tổng kết 5 năm theo yêu cầu của Kết luận 08/KL–TW ngày 14/12/2006 của Ban Bí thư ở không ít cấp uỷ chưa được quan tâm và thực hiện nghiêm túc; đến ngày 20/9/2007 vẫn còn 16 tỉnh, thành phố và một số Ban Cán sự đảng các bộ, ngành chưa có báo cáo tổng kết. Một số địa phương việc chỉ đạo tổng kết không sâu, có biểu hiện làm qua loa, qua tổng kết không tạo được những chuyển biến mới, tích cực thúc đẩy kinh tế hợp tác, HTX phát triển.

2. Nhận thức của các cấp uỷ đảng, chính quyền, cán bộ đảng viên và một bộ phận quần chúng nhân dân về kinh tế tập thể theo yêu cầu Nghị quyết có chuyển biến nhất định.

+ Thông qua học tập quán triệt Nghị quyết, nhận thức của các cấp uỷ đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên có chuyển biến một bước, nhiều nơi đã hiểu biết rõ hơn vai trò, vị trí và yêu cầu khách quan phải xây dựng và phát triển kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nắm vững hơn về mô hình HTX mới, thấy rõ hơn trách nhiệm trong việc cụ thể hoá, thể chế hoá, tổ chức chỉ đạo thực hiện Nghị quyết.

+ Xã viên, các tổ hợp tác, HTX thấy được và tin tưởng hơn vào đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế tập thể. Nhiều hộ nông dân, xã viên và người lao động hiểu biết hơn về HTX kiểu mới, thấy được vai trò HTX đối với đáp ứng các nhu cầu sản xuất, đời sống, từ đó mạnh dạn đầu tư mở rộng sản xuất, tham gia thành lập HTX.

Tuy nhiên, nhận thức trong Đảng và trong nhân dân về đường lối, các quan điểm phát triển kinh tế tập thể của Nghị quyết vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế lớn:

+ Nhìn chung, các cấp uỷ, chính quyền, cán bộ, đảng viên chưa quán triệt đầy đủ những chủ trương, quan điểm phát triển kinh tế tập thể đã xác định trong Nghị quyết(*). Vẫn còn những ý kiến cho rằng HTX là sản phẩm của lịch sử đã qua và nếu người dân cần đến đâu thì để cho họ tự tổ chức đến đấy, không nhất thiết phải quan tâm thúc đẩy. Tồn tại lớn nhất là các cấp uỷ, chính quyền, cán bộ và đảng viên phổ biến chưa nhận thức, chưa thấy được bản chất HTX chính là tổ chức của người dân, do dân, cùng nhau liên kết lại để tự giúp mình, giúp đỡ lẫn nhau cùng vươn lên, trong đó tuyệt đại bộ phận là những người sản xuất nhỏ, những người yếu thế, nghèo, trình độ, năng lực thấp, vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội, chưa nhận thức được đây là con đường đi lên của họ và là một công cụ xoá đói, giảm nghèo, phát triển cộng đồng. Không nhận thức đúng và đầy đủ tính tất yếu khách quan, vai trò, vị trí, cũng như những khó khăn, phức tạp to lớn khi xây dựng HTX, đánh giá kết quả hoạt động của HTX nặng về kinh doanh thuần tuý, mức đóng góp ngân sách, chưa xuất phát từ quan điểm toàn diện, cả kinh tế - chính trị - xã hội, không thấy được vai trò HTX trong việc phát triển kinh tế hộ xã viên, đáp ứng các nhu cầu của xã viên, người lao động. Nhận thức về mô hình HTX cũng chưa đủ rõ, có khi đánh đồng HTX với doanh nghiệp, HTX với tổ chức xã hội hoặc công ty cổ phần.

Do nhận thức không đúng dẫn đến lúng túng trong lãnh đạo thực hiện Nghị quyết, thiếu nhất quán trong xây dựng và hoàn thiện thể chế về HTX; có nơi buông lỏng không quan tâm đến việc chỉ đạo, xây dựng và tạo điều kiện cho HTX phát triển, hoặc “coi HTX là cánh tay nối dài của cấp uỷ, chính quyền”, can thiệp sâu vào công việc nội bộ của HTX.

+ Trong nhân dân, một bộ phận lớn người dân, các hộ kinh tế gia đình chưa hiểu biết đầy đủ mô hình HTX mới, vẫn coi duy trì phát triển HTX là trách nhiệm của các cấp chính quyền, chưa thấy HTX là của chính mình, là con đường đi lên của mình và trách nhiệm phải tham gia xây dựng HTX, vì thế không tích cực và chủ động tham gia góp vốn, ỷ lại và trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Nhiều HTX không phân biệt quyền và nghĩa vụ của các hộ xã viên với hộ không phải là xã viên HTX, mối quan hệ giữa HTX với các thành viên thiếu gắn bó. Đặc biệt, nhiều người dân còn mặc cảm về mô hình HTX cũ, thiếu tin vào mô hình HTX mới, sợ rơi vào tình trạng như trước đây, nên tuy có nhu cầu hợp tác, nhưng vẫn không muốn vào hoặc cùng hợp tác với nhau thành lập HTX.

Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế về nhận thức trên chủ yếu là do chưa trực tiếp thấy rõ được lợi ích của HTX và công tác tuyên truyền, vận động còn yếu kém.

Đến nay những lợi ích các mặt về kinh tế, xã hội mà HTX mang lại cho xã viên, thành viên chưa nhiều nên HTX chưa có sức hấp dẫn. Việc tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết, Luật HTX và các chính sách làm chưa tốt, chưa thường xuyên (hầu hết các cơ quan thông tin đại chúng ở Trung ương và địa phương ít đề cập đến kinh tế tập thể). Đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền ở cả Trung ương và địa phương chưa nhận thức sâu sắc vai trò, vị trí khách quan của kinh tế tập thể, chưa nắm chắc được mô hình HTX kiểu mới, các điển hình, nhân tố mới trong thực tiễn nên diễn đạt chưa đủ sức thuyết phục.

3. Kết quả việc thể chế hoá và thực hiện các chính sách đã nêu trong Nghị quyết

3.1 - Về cơ bản, thể chế hoá các chủ trương, chính sách nêu trong Nghị quyết đã được Quốc hội, Chính phủ thực hiện; các bộ, ngành và địa phương cũng đã quán triệt những nội dung của Nghị quyết cụ thể hơn trong các văn bản qui phạm pháp luật, bước đầu tạo khung khổ pháp lý tương đối hoàn chỉnh cho các tổ hợp tác, HTX thành lập và hoạt động.

+ Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật HTX sửa đổi (Luật HTX năm 2003), trong đó đã thể chế hoá được các nội dung cơ bản của Nghị quyết như: giảm tối đa các thủ tục thành lập, đăng ký kinh doanh; mở rộng đối tượng tham gia HTX (gồm cả người lao động, cán bộ, công chức và pháp nhân); phân định rõ chức năng quản lý của ban quản trị và chức năng điều hành của chủ nhiệm HTX; xác định nội dung các chính sách cơ bản đối với HTX.

+ Triển khai thực hiện Luật HTX, từ năm 2004 đến nay, Chính phủ đã ban hành 4 nghị định về qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật HTX, mẫu hướng dẫn xây dựng điều lệ HTX, về đăng ký kinh doanh và các chính sách khuyến khích phát triển HTX([2]). Chính phủ cũng đã ban hành nghị định về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác và các nghị định khác, trong đó có quy định các nội dung liên quan đến chính sách bảo hiểm xã hội; giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho HTX, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho HTX… Thủ tướng Chính phủ đã có các quyết định về xử lý nợ tồn đọng của HTX, thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển HTX...

+ Trên cơ sở các nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ và theo phân công của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị 22/2003/CT-TTg, ngày 03/10/2003 về tiếp tục thúc đẩy việc thực hiện Nghị quyết TW 5 (Khoá IX) về kinh tế tập thể, các bộ, ngành đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện về: đăng ký kinh doanh đối với HTX; hướng dẫn tiêu chí đánh giá và phân loại HTX; hướng dẫn thực hiện một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển HTX; xử lý nợ tồn đọng của các HTX; miễn thuế môn bài đối với các tổ dịch vụ, cửa hàng, cửa hiệu thuộc HTX hoạt động dịch vụ kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp; chế độ tài chính hỗ trợ các sáng lập viên HTX chuẩn bị thành lập, các đối tượng đào tạo, bồi dưỡng của HTX;  quy định việc tham gia bảo hiểm xã hội của xã viên, người lao động làm việc trong các HTX; hoạt động của các Quỹ tín dụng nhân dân; tín dụng nội bộ HTX; hướng dẫn cho vay đối với HTX([3])

+ Ở địa phương, trong thẩm quyền được phân cấp và dựa vào điều kiện cụ thể của mình, một số tỉnh, thành phố đã chủ động quyết định một số chính sách, biện pháp cụ thể với các mức độ khác nhau góp phần đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

Đến nay, có 20 tỉnh, thành phố ban hành được các các giải pháp cụ thể hỗ trợ, khuyến khích phát triển HTX nông nghiệp; 28 tỉnh, thành phố - chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ HTX; 20 tỉnh, thành phố - chính sách hỗ trợ về đất đai; 18 tỉnh, thành phố - chính sách tài chính, tín dụng; 23 tỉnh, thành phố - chính sách hỗ trợ ứng dụng khoa học, kỹ thuật; 8 tỉnh, thành phố - chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng; 6 tỉnh, thành phố - chính sách xúc tiến thương mại cho HTX…

Trong đó, có 18 tỉnh, thành phố miễn 100% kinh phí đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ HTX, 17 tỉnh, thành phố giao đất không thu tiền và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho HTX nông nghiệp làm công trình hạ tầng phục vụ sản xuất. Một số tỉnh đã thành lập quỹ trợ vốn xã viên hoặc dành một khoản ngân quỹ để hỗ trợ cho các HTX vay phát triển sản xuất, kinh doanh. Ngoài ra, một số tỉnh như Hà Giang hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay cho các HTX với mức bình quân 100 triệu đồng/HTX trong thời hạn 3 năm; Hải Phòng hỗ trợ 100% kinh phí bảo hiểm xã hội cho chủ nhiệm, 50% cho phó chủ nhiệm và kế toán trưởng HTX nông nghiệp; Tiền Giang, An Giang hỗ trợ kinh phí để tăng cường cán bộ quản lý về công tác ở HTX; Khánh Hoà, Hoà Bình và Thanh Hoá tạm miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho các HTX nông nghiệp, huyện Văn Chấn (Yên Bái) hỗ trợ mỗi HTX mới ở vùng dân tộc 20 triệu đồng, Kiên Giang và Hải phòng hỗ trợ lãi suất tín dụng để các HTX nông nghiệp mua phân bón cho xã viên trả chậm, xây dựng hệ thống bơm tưới phục vụ sản xuất…

Tuy nhiên, việc thể chế hoá nhiều chính sách quy định trong Nghị quyết, Luật HTX, Chỉ thị 22 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định 88 còn chậm, thiếu đồng bộ, một số nội dung đến nay chưa được hướng dẫn:

+ Luật HTX năm 2003 có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 nhưng hầu hết các nghị định, văn bản hướng dẫn ban hành vào năm 2005. Nghị định 88 nêu 9 chính sách, mới có 4 chính sách có thông tư hướng dẫn hoặc quyết định thực hiện (về hỗ trợ thành lập HTX, đào tạo cán bộ, tín dụng và Quyết định thành lập quỹ hỗ trợ phát triển HTX); còn lại các chính sách chưa có thông tư hướng dẫn thực hiện là: giao đất không thu tiền cho HTX nông nghiệp và việc góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cho HTX đối với phần thu nhập từ các hoạt động dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh của xã viên và miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho các HTX nông nghiệp đối với phần thu nhập tạo ra từ hoạt động dịch vụ trực tiếp phục vụ đời sống xã viên; hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại; hỗ trợ HTX đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống của cộng đồng xã viên.

+ Một số chính sách ban hành chưa cụ thể, chưa sát với thực tế, khó thực hiện nên tính khả thi chưa cao, như: chính sách bảo hiểm quy định người lao động làm việc trong HTX, liên hiệp HTX hưởng tiền công theo hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên là đối tượng tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (Thông tư 07 và 03-BLĐTBXH), trong khi cán bộ chủ chốt HTX do xã viên bầu ra, không có hợp đồng lao động; chính sách đất đai quy định phải chuyển sang thuê đất nếu đất đó có nguồn gốc từ ngân sách (Nghị định 181-CP), nên nhiều nơi để có đất giao không thu tiền cho HTX nông nghiệp, ngân sách Nhà nước phải chi phí giải phóng mặt bằng, thì không thể thực hiện giao đất không thu tiền cho HTX nông nghiệp được; chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho các HTX, tổ hợp tác sản xuất nông nghiệp có thu nhập từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản (Thông tư 128-BTC), trong khi hầu hết các HTX đã chuyển sang làm dịch vụ cho xã viên nên không được miễn…

+ Chính sách hỗ trợ đối với kinh tế tập thể được quy định tại nhiều văn bản khác nhau, khó theo dõi và tổng hợp, trong khi trình độ quản lý, trình độ công nghệ, tiếp cận thông tin và hiểu biết pháp luật của HTX còn hạn chế, như trường hợp một HTX có dự án đầu tư vào lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư phải cập nhật 4 nghị định và nhiều thông tư khác nữa…

+ Còn một số nội dung chưa được ban hành, như: đưa nội dung về kinh tế tập thể vào giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề; chính sách tăng cường cán bộ về công tác ở HTX.

3.2. Thực hiện các chính sách có một số kết quả góp phần hỗ trợ kinh tế tập thể, nhưng nhìn chung tổ chức triển khai còn chưa đầy đủ và chậm, nhiều chính sách chưa đến được với các HTX

a) Chính sách cán bộ và đào tạo nguồn nhân lực

- Về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: Thực hiện Đề án đào tạo cán bộ 3 chức danh trong HTX theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, sau 3 năm triển khai (2003-2005) đã có 6.529 chủ nhiệm HTX, 12.772 kế toán trưởng và trưởng ban kiểm soát được đào tạo, bồi dưỡng; bộ giáo trình đào tạo cán bộ 3 chức danh cũng được biên tập và hoàn thiện. Nhiều tỉnh, thành phố cũng đã bố trí được một phần kinh phí đào tạo các chức danh chủ chốt và cán bộ chuyên môn nghiệp vụ của HTX (Thái Nguyên 34 lớp cho 1.185 lượt người, Hà Nội 37 lớp – 2.800 lượt người, Hải Dương 56 lớp – 5.411 lượt người, Nam Định 35 lớp – 2.000 lượt người, Nghệ An 39 lớp – 3.950 lượt người, Quảng Nam 55 lớp – 1.375 lượt người, Đắc Lắc 57 lớp – 2.590 lượt người, thành phố Hồ Chí Minh 34 lớp – 1.815 lượt người…).

Đến nay, cả nước (kể cả phần đào tạo của Trung ương) có khoảng 60% cán bộ quản lý 3 chức danh trong HTX đã qua một lượt tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cơ bản về quản lý, điều hành HTX.

       Tuy nhiên, nguồn kinh phí cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý HTX chưa được cân đối theo đúng kế hoạch và thiếu tập trung. Không ít địa phương chưa bố trí ngân sách hoặc bố trí rất ít cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý HTX. Tỷ lệ cán bộ HTX chưa qua đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu mới còn lớn (40%), lại biến động thường xuyên do sự bố trí, sắp xếp cán bộ của cấp uỷ địa phương ở các HTX nông nghiệp. Nội dung đào tạo đã được hoàn thiện một bước theo Luật HTX 2003, nhưng chưa sâu, thiếu đa dạng về chương trình và phương pháp đào tạo. Đào tạo cán bộ quản lý HTX ở trình độ đại học đã được một số HTX quan tâm, hỗ trợ kinh phí cho người đi học nhưng chưa nhiều; phần kinh phí hỗ trợ của Nhà nước chưa biết nhận được ở đâu.

- Về tăng cường cán bộ cho HTX: Thời gian qua, một số địa phương (như An Giang, Tiền Giang….) đã có chính sách hỗ trợ cán bộ khoa học kỹ thuật tăng cường về HTX được bảo đảm chế độ lương, bảo hiểm xã hội, đồng thời được hưởng phụ cấp gắn với hiệu quả sản xuất, kinh doanh của HTX. Tuy nhiên, do chưa có hướng dẫn, quy định thống nhất nên các tỉnh, thành phố khác chưa thực hiện.

          - Về phụ cấp cán bộ: Nghị quyết quy định mức tiền công, tiền lương của HTX phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh và do điều lệ HTX quy định. Vấn đề này được hầu hết các HTX áp dụng, nhưng nhìn chung mức thu nhập của cán bộ quản lý và người lao động trong các HTX, đặc biệt là trong khu vực nông nghiệp – nông thôn còn rất thấp. Ở một số địa phương, thù lao cho chủ nhiệm HTX nông nghiệp vẫn bị khống chế không được cao hơn chủ tịch, phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã.

- Về bảo hiểm xã hội: Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc có tăng lên. Năm 2003 có 1.119 HTX (7,5% tổng số HTX) với 9.300 người tham gia, số tiền thu được là 9 tỷ đồng; năm 2004 có 2.108 HTX (10,4% HTX) với 16.400 người tham gia, số tiền thu được là 15,8 tỷ đồng; năm 2005 có khoảng 15% HTX với 22.200 người tham gia với số tiền thu được là 21,7 tỷ đồng([4]). Phú Thọ có 178 HTX tham gia bảo hiểm xã hội với 1.278 người; Tuyên Quang 98/220 HTX đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động đạt 44,3%, Yên Bái 92 HTX tham gia bảo hiểm xã hội cho 609 người, Thanh Hoá có 329 HTX đóng BHXH cho 2.338 người. Trong nông nghiệp, những tỉnh có tỷ lệ số HTX tham gia bảo hiểm xã hội cao là: Nam Định 84%, Vĩnh Phúc 48%, Tuyên Quang 45%, Quảng Nam 59%, Phú Yên 49%…([5])

Tuy nhiên, số đối tượng tham gia đóng bảo hiểm xã hội trong khu vực HTX còn ít và chủ yếu mới được thực hiện từ năm 2003. Vướng mắc và cũng là bức xúc nhất hiện nay là, nhiều cán bộ chủ chốt HTX (chủ nhiệm, phó chủ nhiệm, kế toán trưởng, trưởng ban kiểm soát HTX) đã gắn bó cả đời mình với HTX, tham gia quản lý HTX liên tục mấy chục năm, nay có nguyện vọng truy đóng bảo hiểm xã hội cho các năm trước tính từ thời điểm có Luật HTX 1996 để đảm bảo đủ thời gian khi nghỉ hưu, nhưng vấn đề này đến nay vẫn chưa được giải quyết.

b) Chính sách đất đai.

- Đến nay các tỉnh đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ về cơ bản đã thực hiện được việc “dồn điền, đổi thửa”. Cả nước có 2.530/3.606 xã (đạt 82,68%) thực hiện việc dồn điền đổi thửa, trong đó có 2.283 xã đã hoàn thành (đạt 90,23%). Sau dồn điền đổi thửa, số thửa bình quân/hộ đã giảm từ 7,7 xuống còn 3,5 thửa/hộ. Một số tỉnh có 100% số xã đã hoàn thành như: Hải Dương, Hà Nam, Thái Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An…

- Thực hiện chính sách đất đai, trong nông nghiệp đến nay mới chỉ có 9% số HTX được giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất([6]), số HTX phi nông nghiệp được giao đất là 40,6%, nhưng số được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là dưới 10%. Theo số liệu điều tra 1.682 HTX ở 43 tỉnh, thành phố, chỉ có 357/964 HTX (37%) được giao đất làm trụ sở, có 163/469 (34,7%) được giao đất làm xưởng, kho, trạm, trại([7]).

Như vậy, việc thực hiện chính sách đất đai đối với HTX không được nhiều địa phương quan tâm thực hiện. Tình trạng này một phần do địa phương không có quỹ đất công để giao cho HTX, nhưng nhiều nơi có điều kiện về đất đai cũng vẫn không tạo điều kiện hỗ trợ HTX. Một số tỉnh còn thực hiện sai chính sách đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thu tiền cả đối với đất HTX tự nhận chuyển nhượng, nên HTX không được thế chấp sổ đỏ để vay vốn; đất làm cơ sở dịch vụ của HTX nông nghiệp phải chuyển sang thuê và thời hạn thuê chỉ có 10 năm; tuỳ tiện thu hồi đất của HTX để giao cho cá nhân hoặc tổ chức khác.

c) Chính sách tài chính – tín dụng

- Về xử lý nợ tồn đọng: Tổng số nợ tồn đọng của HTX nông nghiệp từ năm 1996 trở về trước là 492,1 tỷ đồng; tính đến 25/5/2007 đã xử lý được 430,4 tỷ đồng (87,5%), còn lại 62 tỷ đồng chưa xử lý, trong đó có 24 tỷ đủ điều kiện nhưng chưa được xoá. Đối với các HTX phi nông nghiệp, số nợ tồn đọng là 117,4 tỷ đồng, số nợ đủ điều kiện xoá là 7,1 tỷ đồng (6%), còn lại 110 tỷ đồng (94%) không đủ điều kiện xoá nợ.

- Về chính sách miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong một thời gian nhất định, đã có một số địa phương triển khai thực hiện. Khánh Hoà miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho 54 HTX dịch vụ nông nghiệp với tổng mức là 2,6 tỷ đồng; Hoà Bình tạm miễn chưa thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần HTX nông nghiệp làm dịch vụ cho các hộ xã viên; các tỉnh như Thanh Hoá, Ninh Bình, Đắc Lắc đã thực hiện việc miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho 100% HTX nông nghiệp chuyển đổi và thành lập mới…

- Việc nhận lại tài sản trước đây của HTX và hoàn trả chi phí do HTX đầu tư đã được một số tỉnh, thành phố chỉ đạo, như Ninh Bình có 100% HTX (256 HTX) đã được nhận bàn giao một số tài sản; một số tỉnh phía Bắc đã chuyển giao quản lý, tài sản lưới điện và kinh doanh dịch vụ điện từ Ban quản lý điện của xã cho 2.863 HTX dịch vụ điện nông thôn; Tuyên Quang đã bàn giao 283/350 công trình thủy lợi cho các HTX…

- Về vay vốn tín dụng: Cả nước chỉ có khoảng 1.500 HTX được vay vốn (gần 10% số HTX) với những khoản vay nhỏ lẻ, chủ yếu là để đáp ứng các nhu cầu hoạt động thường nhật; có 55 dự án đầu tư phát triển của các tổ hợp tác, HTX được vay với số vốn được giải ngân là 788 tỷ đồng, 1.433 dự án trong khu vực HTX được vay vốn từ chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo và việc làm với tổng số vốn vay là 131,4 tỷ đồng để giải quyết việc làm cho 42.708 người; các HTX hầu như không tiếp cận được với các khoản tín dụng dài hạn để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, phát triển kinh tế HTX.

Có 7 tỉnh, thành phố đã hỗ trợ thành lập Quỹ trợ vốn cho xã viên, HTX hoặc dành một phần ngân quĩ hỗ trợ vốn cho HTX. Ở Trung ương, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển HTX với mức vốn điều lệ ban đầu là 100 tỷ đồng. Về tín dụng nội bộ trong HTX, hiện có 696 HTX nông nghiệp (8,1%) đã tổ chức hoạt động tín dụng nội bộ, hỗ trợ cho các hộ thành viên vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh với tổng mức là trên 900 tỷ đồng.

Tuy nhiên, chính sách tài chính, tín dụng còn nhiều vướng mắc, hạn chế cụ thể là: nhiều tỉnh chưa thực hiện miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các HTX mới thành lập, chuyển đổi. Số nợ tồn đọng trong các HTX nông nghiệp chưa được giải quyết dứt điểm, chủ yếu là HTX nợ xã viên để xây dựng hạ tầng, đường điện, nhưng ngành điện trả không đủ hoặc không trả chi phí đầu tư cho HTX; nhiều tỉnh, thành phố chưa giao lại tài sản của HTX cũ và tài sản nhà nước giao cho các HTX sử dụng trước đây cho HTX làm cơ sở vật chất để triển khai các hoạt động. Vay vốn ngân hàng không cần tài sản thế chấp theo quy định của Ngân hàng Nhà nước khó thực hiện do các ngân hàng thương mại chưa quan tâm hoặc thiếu tin vào mô hình HTX, sợ rủi ro. Xây dựng Quỹ hỗ trợ phát triển HTX chậm và qui mô còn nhỏ so với yêu cầu hỗ trợ phát triển HTX.

d) Chính sách hỗ trợ về khoa học – công nghệ

Thực hiện chính sách hỗ trợ về khoa học - công nghệ, một số bộ, ngành ở Trung ương và một số địa phương bố trí một phần kinh phí từ chương trình khuyến công, khuyến nông, từ Quỹ khoa học công nghệ cho nghiên cứu, triển khai các đề tài, dự án hỗ trợ HTX đưa giống mới, công nghệ sinh học, bảo quản và chế biến nông sản; xây dựng mô hình trình diễn tại HTX; hỗ trợ HTX ứng dụng sản xuất rau an toàn, hoa, cây cảnh xuất khẩu. Kinh phí từ sự nghiệp môi trường cũng được một số địa phương triển khai đối với HTX, hỗ trợ xây dựng mô hình HTX thu gom và xử lý rác thải, dịch vụ nước sạch nông thôn...

Tuy nhiên, hỗ trợ không đáng kể và số HTX được hỗ trợ rất ít so với các thành phần kinh tế khác, phổ biến thông tin khoa học công nghệ đến các HTX còn hạn chế. Chủ trương khuyến khích các cơ quan nghiên cứu khoa học liên kết với các HTX, chuyển giao các thành tựu khoa học công nghệ mới cho các HTX chưa được hướng dẫn và tổ chức triển khai. Tiếp cận Quỹ khuyến công, khuyến nông của các HTX rất khó khăn.

đ) Chính sách hỗ trợ tiếp thị và mở rộng thị trường

Các HTX đã được xếp là đối tượng tham gia chương trình xúc tiến thương mại quốc gia từ năm 2005 do Liên minh HTX Việt Nam là đầu mối triển khai và một số ít HTX đã được hỗ trợ kinh phí từ chương trình này. Một số địa phương bước đầu đã quan tâm bố trí một phần kinh phí hỗ trợ HTX trong việc nghiên cứu, tiếp cận thị trường, miễn giảm phí khi tham gia các Hội chợ trong và ngoài nước (thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Tiền Giang, ĐăkLăk, Yên Bái, Bắc Ninh....). Tuy nhiên, chính sách hỗ trợ đến với HTX chưa nhiều, không khác gì các doanh nghiệp nên các HTX không có điều kiện tham gia.

Số HTX liên kết được với doanh nghiệp chưa nhiều, ngoài nguyên nhân do chính sách thuế VAT, còn do doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước chưa chủ động liên kết với HTX, có một số doanh nghiệp còn nợ đọng vốn của HTX.

e) Chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng

Một số địa phương đã tạo điều kiện cho các HTX được tham gia các chương trình, dự án đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn; hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, thuỷ lợi, điện nước, chợ nông thôn.

Tuy nhiên, chính sách này chưa được nhiều địa phương quan tâm, tạo điều kiện đối với các HTX. HTX chưa được coi là một trong các đối tượng, đầu mối thực hiện các chương trình, dự án của Nhà nước.

Nhìn chung, cho đến nay, những nội dung chính sách chủ yếu theo yêu cầu Nghị quyết đã được thể chế hoá. Việc thực hiện các chính sách cũng đã có được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, các quy định chính sách hiện hành tính chất hỗ trợ còn thấp, chính sách đến được với HTX còn ít. Nguyên nhân của tình hình này là do việc cụ thể hoá, hướng dẫn triển khai các chính sách còn chậm, thiếu đồng bộ, hầu hết các chính sách mới được cụ thể hoá trong năm 2005, 2006 và đang trong quá trình triển khai; một số các chính sách chưa phù hợp, tính khả thi chưa cao; tổ chức triển khai chính sách ở các cấp chưa được quan tâm, đặc biệt là công tác thông tin, hướng dẫn giải quyết các chính sách ở cấp chính quyền địa phương và cơ sở.

4- Công tác quản lý nhà nước đối với HTX được quan tâm nhiều hơn trước

- Về tổ chức: ở Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Nhà nước thành lập cục, vụ chuyên trách về kinh tế tập thể; các bộ, ngành khác cũng phân công các bộ phận, cán bộ theo dõi về kinh tế tập thể. Ở địa phương, nhiều tỉnh, thành phố đã phân công, chỉ đạo các sở, ngành tổ chức bộ phận, phân công cán bộ theo dõi về kinh tế tập thể. Trong lĩnh vực nông nghiệp, 61/64 tỉnh, thành phố đã thành lập chi cục HTX và phát triển nông thôn; trong lĩnh vực tín dụng, 12 tỉnh, thành phố có phòng quản lý các tổ chức tín dụng hợp tác; ở một số huyện, thị xã đã phân công cán bộ chuyên trách hoặc bán chuyên trách theo dõi về kinh tế tập thể.

- Theo chức năng, nhiệm vụ được giao, các bộ chuyên ngành, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố đã quan tâm hơn đến xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế tập thể 5 năm, hàng năm và rà soát, bổ sung, xây dựng các chính sách phát triển kinh tế tập thể thuộc trách nhiệm của mình. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2006-2010 (Quyết định 272/2005/QĐ-TTg, ngày 31/10/2005) và chỉ đạo xây dựng kế hoạch hàng năm. Một số địa phương đã tập trung chỉ đạo khắc phục những hạn chế, yếu kém của HTX hoặc tạo điều kiện cho việc thành lập mới các tổ hợp tác, HTX; định kỳ tổ chức gặp mặt lãnh đạo chính quyền với đại diện các HTX để nghe về tình hình kinh tế tập thể và kịp thời giúp các HTX giải quyết các khó khăn, vướng mắc.

Tuy nhiên, bộ máy quản lý nhà nước về HTX chưa được củng cố, đặc biệt nhiều huyện chưa bố trí cán bộ chuyên trách theo dõi về HTX, thường bố trí kiêm nhiệm trong phòng kinh tế hoặc phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn, hầu hết các xã chưa phân công cán bộ theo dõi HTX. Cán bộ theo dõi về kinh tế tập thể chưa được đào tạo, bồi dưỡng cơ bản về HTX, chưa đủ năng lực tham mưu giúp chính quyền cấp mình thực hiện hiệu quả quản lý nhà nước đối với kinh tế tập thể.

Quản lý nhà nước của các cấp đối với kinh tế tập thể chưa đáp ứng so với yêu cầu, vẫn còn nhiều bất cập và hiệu quả chưa cao, chưa quan tâm đến tháo gỡ các khó khăn và tạo điều kiện cho các tổ hợp tác, HTX hoạt động. Công tác xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế tập thể tuy đã triển khai nhưng chưa gắn kết với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của cả nước nói chung, kế hoạch phát triển kinh tế -  xã hội ở các địa phương nói riêng, do vậy chưa được bố trí nguồn lực thực hiện. Công tác kiểm tra, đôn đốc thực hiện Luật HTX, chỉ đạo thực hiện các chính sách đối với HTX, cũng như trách nhiệm tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, tuyên truyền nhân rộng các mô hình làm ăn có hiệu quả không được nhiều địa phương thực hiện.

5- Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể trong phát triển kinh tế tập thể

5.1 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số tổ chức đoàn thể đã quan tâm hơn đến công tác vận động phát triển tổ hợp tác, HTX; nhưng chưa thường xuyên và còn nhiều hạn chế.

          Những năm qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số tổ chức đoàn thể, như Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã tham gia vào công tác vận động, hướng dẫn, tạo điều kiện cho việc hình thành hàng ngàn tổ hợp tác, hàng trăm HTX mới trong các ngành nghề, lĩnh vực; tham gia vào nhiều hoạt động hỗ trợ, cung cấp dịch vụ, tư vấn giúp cho kinh tế hợp tác, HTX ổn định và phát triển. Các tổ chức này đều có chương trình phối hợp hoạt động trong phát triển kinh tế tập thể với Liên minh HTX Việt Nam và các hoạt động phối hợp đang được triển khai, như xây dựng mô hình HTX của thanh niên (với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh); HTX của phụ nữ mà đặc biệt ở các khu vực miền núi (với Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam); phát triển các mô hình tổ hợp tác ở nông nghiệp, nông thôn (với Hội Nông dân Việt Nam).

Tuy vậy, đánh giá nghiêm túc thì hoạt động của các đoàn thể chưa thường xuyên, liên tục và chưa thực sự được chú trọng đúng mức theo yêu cầu của Nghị quyết.

5.2- Tổ chức của Liên minh HTX Việt Nam được củng cố một bước; Liên minh đã đẩy mạnh được các hoạt động và có những kết quả nhất định.

- Về tổ chức: Thực hiện Nghị quyết và Chỉ thị 43-CT/TW, ngày 8/9/2004 của Ban Bí thư về lãnh đạo Đại hội III Liên minh HTX Việt Nam, Liên minh HTX Việt Nam đã tổ chức thành công Đại hội III vào tháng 01/2005. Tổ chức của Liên minh được củng cố, hoàn thiện một bước nhằm đảm bảo tính thống nhất từ Liên minh trung ương, Liên minh HTX các tỉnh, thành phố đến các tổ hợp tác, HTX. Cán bộ Liên minh được tăng cường; quan hệ của Liên minh với các HTX, các thành viên được đẩy mạnh và gắn bó hơn, thành viên tham gia Liên minh ngày càng tăng (từ 6.400 đơn vị năm 2001, đến nay là 10.881 đơn vị, tăng 1,7 lần, trong đó có 8.996 HTX, 107 tổ hợp tác). Liên minh cũng chú trọng thúc đẩy và tăng cường quan hệ phối hợp với các bộ, ngành, địa phương trong phát triển kinh tế tập thể.

- Về triển khai các nhiệm vụ chuyên môn: Liên minh đã chủ động tham gia tích cực quá trình chuẩn bị nội dung để Chính phủ, các tỉnh uỷ, thành uỷ và UBND các tỉnh, thành phố ban hành các nghị quyết, chỉ thị, chương trình hành động, các dự án, đề án triển khai thực hiện Nghị quyết, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật HTX năm 2003. Liên minh HTX ở nhiều tỉnh, thành phố là đầu mối trung tâm tham mưu về phát triển kinh tế tập thể và ở nhiều địa phương được tỉnh uỷ, thành uỷ phân công là bộ phận thường trực của Ban chỉ đạo đổi mới phát triển kinh tế tập thể và giao nhiệm vụ theo dõi, đôn đốc, sơ kết, tổng kết thực hiện Nghị quyết. Công tác tuyên truyền, vận động phát triển HTX và các hoạt động hỗ trợ tư vấn, dịch vụ cho khu vực HTX và thành viên được đẩy mạnh hơn trước và có những kết quả cụ thể. Đã đẩy mạnh công tác thi đua và mở rộng được các hoạt động đối ngoại.

Tuy vậy, hoạt động của Liên minh cũng còn nhiều bất cập và hạn chế. Hoạt động hỗ trợ, tư vấn, dịch vụ chưa đáp ứng được đòi hỏi bức xúc hiện nay của các HTX, nhất là hỗ trợ về vốn, thông tin thị trường, tổ chức tiêu thụ sản phẩm, các hoạt động tư vấn về pháp lý, kế toán kiểm toán, khoa học công nghệ. Một số Liên minh tỉnh, thành phố chưa thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của mình đối với các HTX và thành viên, còn có biểu hiện hành chính hoá. Điều đó là do những hạn chế, yếu kém trong tổ chức và triển khai hoạt động của Liên minh. Đồng thời cũng có nguyên nhân quan trọng là Liên minh chưa được các cấp uỷ quan tâm đúng mức, các điều kiện về vật chất và cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu công tác, các công cụ, phương tiện và nguồn lực triển khai hoạt động hỗ trợ chưa được đảm bảo và còn thiếu.

II. TÌNH HÌNH KINH TẾ TẬP THỂ SAU 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 5

1.     Những kết quả đạt được

· Tổ hợp tác tiếp tục phát triển mạnh trong tất cả các ngành nghề, lĩnh vực và các vùng miền trong cả nước, hiện là mô hình phổ biến, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, xã hội ở nhiều vùng hiện nay; hoạt động thiết thực vì lợi ích cả về kinh tế, xã hội của các thành viên.

Theo báo cáo chưa đầy đủ của các địa phương, đến tháng 6/2007 cả nước có trên 320.000 tổ hợp tác, so với năm 2001 tăng 32,6% (năm 2001 có 241.261 tổ hợp tác); trong đó có 33,38% tổ hợp tác nông lâm nghiệp, 22,48% tổ tín dụng, 17,75% tổ thương mại, dịch vụ, 12,74% tổ công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, 3,85% tổ thuỷ sản, 2,74% tổ điện nước và 2,42% tổ dịch vụ cộng đồng khác. Các tỉnh, thành phố có nhiều tổ hợp tác là Bắc Giang – 4.138 tổ, Lạng Sơn – 6.554 tổ, Thanh Hoá - 27.176 tổ, Đăk Lak – 5.790 tổ, Bạc Liêu – 7.551 tổ, Trà Vinh – 6.058 tổ, Cần Thơ - 4.945 tổ, Hải Phòng – 17.966 tổ,... Những năm gần đây tổ hợp tác phát triển rộng ở khắp các vùng, miền cả nước, đặc biệt phát triển mạnh ở khu vực Nam bộ (chiếm 49,9% tổng số tổ hợp tác) và tập trung chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tín dụng và vay vốn, và ở những khu vực có kinh tế hàng hoá phát triển. Nhiều tổ hợp tác đã được tổ chức chặt chẽ, tuân thủ các nguyên tắc HTX và được đăng ký, chứng thực ở xã, phường.

Sự đa dạng của các loại hình tổ hợp tác trong các ngành và các lĩnh vực đã phản ánh nhu cầu hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau của người dân trong hoạt động sản xuất, đời sống. Về mặt kinh tế, các tổ hợp tác đã thúc đẩy sản xuất trên địa bàn phát triển, tận dụng được nguồn lực (đất đai, nguyên liệu, vốn, lao động...) tại địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xoá đói giảm nghèo và nâng cao đời sống cho các hộ thành viên, đồng thời tạo tiền đề cho cung cách làm ăn mới, hướng sản xuất tới thị trường. Về mặt xã hội, các tổ hợp tác là mô hình tương trợ, tự giúp đỡ lẫn nhau để cùng vươn lên thoát khỏi đói nghèo và làm giàu cho mình cũng như cho xã hội, đề cao tinh thần tương thân, tương ái, vì cộng đồng.

Trong khi chưa có đủ điều kiện thành lập HTX, thì đây là những mô hình liên kết hợp tác phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội ở nhiều vùng và đáp ứng nguyện vọng của người dân, cả về mặt xã hội và kinh tế. Một số tổ hợp tác quy mô lớn đã chuyển đổi hoạt động theo mô hình HTX (5 năm qua có trên 1.000 tổ hợp tác chuyển thành HTX, điển hình như Bắc Giang là 120, Hà Tĩnh – 125, Quảng Bình – 150, Đồng Tháp – 40, Cần Thơ - 41, Trà Vinh – 112. Riêng năm 2006 là 146).

· Các HTX, Liên hiệp HTX đã có những chuyển biến tích cực, từng bước ổn định và bền vững hơn.

Ở thời điểm 31/12/2000, cả nước có 14.841 HTX, 6 liên hiệp HTX trong đó đã chuyển đổi là 7.722 HTX, chưa chuyển đổi là 3.353 và thành lập mới là 3.766. Đến 20/6/2007 cả nước có 17.599 HTX, 39 liên hiệp HTX (8.535 HTX nông nghiệp, 2.354 HTX tiểu thủ công nghiệp, 1.107 HTX giao thông vận tải, 470 HTX thủy sản, 668 HTX xây dựng, 651 HTX thương mại – dịch vụ, 942 Quỹ tín dụng nhân dân, 2.678 HTX dịch vụ điện, 76 HTX môi trường và 118 các loại hình HTX khác).

Năm năm qua số lượng HTX tăng không nhiều (17,92%), nhưng với những tác động tích cực từ quá trình thực hiện Nghị quyết, khu vực HTX đã có những chuyển biến tích cực, từng bước phát triển ổn định và bền vững hơn:

+ Các HTX cũ cơ bản đã được chuyển đổi xong; các HTX yếu kém, tồn tại hình thức trong nhiều năm đã được giải thể; nhiều HTX mới được thành lập và những mô hình HTX mới được xây dựng.

- Trên cơ sở rà soát, phân loại, xử lý các HTX tồn tại hình thức và chuyển đổi các HTX có đủ điều kiện, đến nay, về cơ bản đã giải quyết được gần 4.000 HTX cũ còn ở thời điểm cuối năm 2001, trong đó có hơn 1.400 HTX chuyển đổi theo Luật HTX, trên 2.300 HTX yếu, kém, tồn tại hình thức giải thể và chỉ còn gần 300 HTX (chủ yếu là HTX nông nghiệp) chưa chuyển đổi và thực tế cũng không còn hoạt động nữa, tập trung ở một vài tỉnh phía Bắc; đồng thời tiếp tục giải thể trên 1.200 HTX tuy đã chuyển đổi nhưng hoạt động yếu kém, hoặc có những sai phạm theo quy định của Luật HTX (năm 2006 giải thể 430 HTX, 6 tháng đầu năm 2007 giải thể 323 HTX).

Dù quá trình chuyển đổi HTX còn những hạn chế, nhiều nơi mới chỉ làm được khâu pháp lý, tổ chức phân định tài sản vốn quĩ, tuy chưa đẩy mạnh được các hoạt động đa dạng, thiết thực cho hộ xã viên, xã viên, nhưng đây là một kết quả rất quan trọng, tạo tiền đề cho quá trình củng cố, đổi mới, phát triển HTX trong những năm tiếp theo.

- Đã có 6.093 HTX mới được thành lập (năm 2002 – 917 HTX, 2003 – 1.034 HTX, 2004 – 1.300 HTX, 2005 – 1.623 HTX, 2006 – 832 HTX và 6 tháng đầu năm 2007 – 387 HTX. Bên cạnh các lĩnh vực truyền thống, nhiều mô hình HTX trong các ngành, nghề mới xuất hiện, như HTX vệ sinh môi trường (76 HTX), HTX chợ (45 HTX), HTX điện (2.678 HTX)... Cũng xuất hiện các mô hình HTX gắn với đáp ứng nhu cầu đời sống, kinh tế của các giới, các tầng lớp, các nhóm đối tượng khác nhau, như HTX của phụ nữ, HTX của thanh niên, HTX của những người tàn tật, của cựu chiến binh, của nhà chùa, nhà thờ vận động, của đồng bào dân tộc ít người. Từ kinh nghiệm quốc tế, một số mô hình mới đang được nghiên cứu triển khai ở một số nơi, như HTX trường học, HTX nhà ở, HTX y tế...

+ Các HTX (chuyển đổi cũng như thành lập mới) được củng cố một bước về tổ chức quản lý, về năng lực hoạt động, về trách nhiệm hai chiều giữa xã viên và HTX, từng bước đáp ứng tốt hơn nhu cầu các mặt của thành viên; số HTX có lãi nhiều hơn.

Các HTX nông nghiệp chuyển đổi từng bước khắc phục tình trạng thua lỗ kéo dài. Ở các mức độ khác nhau, HTX nông nghiệp đã thể hiện được vai trò trong hướng dẫn các hộ xã viên, thành viên chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi và tổ chức các dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống của các xã viên, thành viên. Các HTX thành lập mới nhìn chung tuân thủ các quy định của Luật HTX; xã viên tham gia tự nguyện và không chỉ giới hạn các cá nhân, hộ kinh tế gia đình mà còn có các chủ trang trại, hộ tiểu chủ, các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ và vừa, doanh nghiệp nhà nước. Các HTX mới thành lập có số xã viên bình quân ít hơn số HTX cũ, nhưng mức vốn góp cao hơn, có định hướng sản xuất kinh doanh rõ ràng, tập hợp được đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ, mạnh dạn và năng động trong đầu tư. Các HTX củng cố được một bước về tổ chức, cán bộ, quản lý, vốn quỹ, về trách nhiệm và quan hệ giữa xã viên với HTX. Hoạt động của nhiều HTX được đổi mới, thiết thực gắn với lợi ích của các thành viên. Nhiều HTX đã khắc phục được trì trệ, yếu kém, nỗ lực vươn lên, phát triển với quy mô lớn hơn, chất lượng hoạt động ổn định và có tính bền vững hơn.

Các HTX hoạt động có hiệu quả ngày càng nhiều hơn. Điều tra 1.244 HTX thuộc tất cả các ngành nghề cho thấy 87,1% đã có lãi, 90,3% - có trích lập quỹ, 55,5% - có chia lãi cho xã viên([8]). Trong nông nghiệp, số HTX hoạt động có lãi chiếm 68%, tăng 7% so với năm 2002([9]). Cả nước có 42,1% HTX khá; tuy nhiên, số HTX trung bình, yếu kém còn nhiều -  44,8% HTX trung bình, 13,8% yếu kém (năm 2002, khu vực nông nghiệp có 28,1% HTX khá, 46,9% HTX trung bình, 25% HTX yếu kém; tương ứng trong khu vực phi nông nghiệp là 39,5%, 43,5% và 17%)([10]).

+ Liên kết giữa các HTX với nhau bước đầu được tăng cường, nhất là giữa các HTX cùng ngành nghề và trên cùng địa bàn.

Để tăng cường tiềm lực kinh tế, khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt động một số HTX đã hợp nhất lại với nhau thành HTX lớn hơn hoặc liên kết lại với nhau về tổ chức, thành lập các liên hiệp HTX hoặc hiệp hội ngành nghề. Năm năm qua, đã có 540 HTX hợp nhất lại thành 144 HTX lớn hơn; cuối năm 2001 cả nước có 8 liên hiệp HTX, đến 30/6/2007 đã có 39 liên hiệp HTX (riêng năm 2006 có 8 liên hiệp và 6 tháng đầu năm 2007 có 5 liên hiệp thành lập mới) thu hút sự tham gia của trên 300 HTX thành viên. Hoạt động của các liên hiệp đã góp phần giải quyết một số khó khăn và thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh của các HTX thành viên, tạo sự liên kết hợp tác để cùng phát triển, đồng thời một số liên hiệp còn có tác động tích cực đến nhiều HTX khác, như Liên hiệp HTX thương mại thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp HTX xe buýt thành phố Hồ Chí Minh, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương.

Liên kết giữa các HTX với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác theo hướng xây dựng những mối quan hệ kinh doanh ổn định, chắc chắn cũng được tăng cường hơn. Hình thức và nội dung liên kết, hợp tác đa dạng, như ứng trước vật tư, nguyên liệu cho sản xuất, cung ứng giống cây trồng vật nuôi, vật tư, sản phẩm hàng hoá, tạo vùng nguyên liệu tập trung cung ứng cho các nhà máy, cơ sở sản xuất của các HTX nông nghiệp; liên kết ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất; liên kết xử lý vấn đề môi trường trong các làng nghề; liên kết tiêu thụ sản phẩm, nông sản cho các hộ xã viên, thành viên.

Ngoài liên kết, liên doanh giữa HTX với các tổ chức, cá nhân, từ năm 2003 đến nay, riêng trong lĩnh vực nông nghiệp có 3.184 pháp nhân tham gia xã viên HTX. Sự tham gia của các pháp nhân này vừa giúp HTX tăng mức huy động vốn góp để mở rộng sản xuất, đầu tư phát triển theo chiều sâu vừa làm tiền đề để các doanh nghiệp thành viên liên kết nhiều mặt (cung ứng vật tư, hướng dẫn kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm…) với HTX.

+ Là một khu vực kinh tế – xã hội rộng lớn, các tổ hợp tác, HTX có những đóng góp quan trọng thúc đẩy kinh tế phát triển và giải quyết các vấn đề xã hội.

Hiện nay, các tổ hợp tác, HTX tập hợp trên 12,5 triệu người lao động, hộ kinh tế gia đình, kinh tế cá thể, tiểu chủ, các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ là một khu vực kinh tế – xã hội rộng lớn có tác động quan trọng, không thể thay thế được đối với nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là những ngành nghề, như nông nghiệp, thuỷ hải sản, tín dụng nhỏ, tiểu thủ công nghiệp, vận tải hàng hoá, hành khách... và có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, công ăn việc làm, thu nhập của khoảng 47 - 50 triệu người, đặc biệt ở khu vực nông thôn và những tầng lớp có thu nhập thấp, là nhân tố không thể thay thế góp phần đề cao tinh thần tương thân tương ái, vì cộng đồng, thúc đẩy dân chủ hoá, bảo đảm an sinh xã hội, ổn định chính trị ở cơ sở.

Các HTX tạo động lực thúc đẩy kinh tế hộ xã viên phát triển thông qua các dịch vụ hỗ trợ sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh các hoạt động chủ yếu là phục vụ các nhu cầu kinh tế, đời sống của xã viên, hộ xã viên, các HTX còn tạo ra lượng sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ không nhỏ để đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của xã hội và xuất khẩu. Chưa tính các tổ hợp tác, và phần của các hộ xã viên, các HTX, liên hiệp HTX đã đóng góp 6,83% GDP (năm 2005). Khu vực HTX còn là kênh huy động các nguồn lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển ngành nghề, đồng thời đóng góp lớn trong xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, nhất là ở khu vực nông thôn([11]).  

2- Tình hình tổ hợp tác, HTX trong các ngành, lĩnh vực

2.1- Trong nông nghiệp, lâm nghiệp

Tính đến 20/6/2007, cả nước có trên 100.000 tổ hợp tác; có 8.535 HTX nông nghiệp với tổng số xã viên HTX nông nghiệp cả nước là trên 6,9 triệu, trong đó có 6,5 triệu hộ nông dân (6,5/11,3 triệu hộ = 57,5% số hộ nông, lâm nghiệp). Bình quân một HTX nông nghiệp có 743 xã viên, hộ xã viên; giải quyết việc làm thường xuyên và thu nhập trực tiếp từ HTX cho 58 người. Quy mô tổ chức của HTX nông nghiệp ở 3 mức độ (thôn, liên thôn và HTX trên phạm vi toàn xã) với mức vốn hoạt động bình quân của một HTX trên 724,9 triệu đồng. Nhiều HTX chuyển đổi đã bước đầu khắc phục được tình trạng thua lỗ kéo dài, tổ chức được các dịch vụ mới ngoài các dịch vụ truyền thống. Trong nông nghiệp, các HTX thường được tổ chức theo các mô hình sau:

+ Hầu hết các HTX nông nghiệp hiện nay tổ chức theo mô hình dịch vụ, nhưng với nhiều mức độ và cấp độ khác nhau. Đa số các HTX tổ chức theo mô hình này chỉ tập trung vào một số khâu dịch vụ thiết yếu sản xuất nông nghiệp. Theo báo cáo của 44 tỉnh, thành phố có 72% số HTX làm dịch vụ thuỷ lợi (đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung bộ là 95%), 43% - dịch vụ bảo vệ thực vật, 43% - dịch vụ cung ứng vật tư, phân bón, 56% - dịch vụ khuyến nông, 31% - dịch vụ điện, 38% - dịch vụ khoa học kỹ thuật. Một số HTX đã mở rộng các loại hình dịch vụ khác gắn với việc đáp ứng nhu cầu sản xuất của các hộ xã viên, như dịch vụ tiêu thụ sản phẩm (8% HTX)([12]), dịch vụ chế biến, dịch vụ  dụng nội bộ (8,1% HTX nông nghiệp), dịch vụ tư vấn, thông tin cũng như dịch vụ phục vụ đời sống, dịch vụ văn hoá, dịch vụ môi trường, nước sạch, dạy nghề, hiếu hỉ.....

+ Nhiều HTX (gần 20%) đã tiến hành kinh doanh tổng hợp, kết hợp giữa dịch vụ với sản xuất, chế biến, phát triển ngành nghề, kinh doanh thương mại, xây dựng. Các HTX này huy động được vốn đầu tư lớn, giải quyết được nhiều việc làm và kinh doanh có hiệu quả.

+ HTX nông nghiệp chuyên sâu, chuyên ngành đang phát triển và nhìn chung hoạt động hiệu quả, như: HTX trồng hoa cây cảnh, sản xuất rau an toàn, tiêu thụ trái cây, chế biến sữa, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Một số mô hình liên kết các HTX thành lập liên hiệp HTX trong nông nghiệp đã hình thành (Bình Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Quảng Bình....). Mô hình liên kết giữa các HTX với các công ty để cung ứng vật tư cho sản xuất và tiêu thụ nông sản cho nông dân xuất hiện ở nhiều địa phương.

+ Các mô hình liên kết, hợp tác giữa các HTX cũng từng bước được đẩy mạnh như mô hình hợp nhất giữa các HTX quy mô nhỏ, mô hình liên hiệp HTX nông nghiệp (Khánh Hoà, Quảng Trị, Bình Định, Bắc Ninh), liên hiệp HTX chăn nuôi (Hải Dương) và các mô hình liên kết giữa các HTX với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

Tuy nhiên, tồn tại cơ bản hiện nay của các HTX nông nghiệp là nhiều thiếu sót trong chuyển đổi theo Luật HTX chưa được khắc phục căn bản, tình trạng không rõ ràng về xã viên và quyền sở hữu tài sản còn khá phổ biến; quy mô nhỏ, thiếu vốn, năng lực nội tại yếu kém; trình độ cán bộ thấp và nhất là lợi ích các mặt trong sản xuất, đời sống mang lại cho xã viên, thành viên chưa nhiều, các khâu dịch vụ thiết yếu nhất mà các hộ có nhu cầu như tổ chức tiêu thụ sản phẩm, bảo quản chế biến nông sản thực phẩm, cung cấp tín dụng… HTX không làm được.

2.2- Trong lĩnh vực thủy sản

Đến 20/6/2007 ngành thuỷ sản có trên 10.000 tổ hợp tác với 55.000 thành viên trong đó thành lập mới 1.803 tổ, thu hút thêm 12.000 thành viên, xã viên: các tổ khai thác thuỷ sản thu hút 25.500 lao động, nuôi trồng thuỷ sản - 27.900 lao động, dịch vụ hậu cần - 3.600 lao động,

Số HTX là 470, trong đó số HTX nuôi trồng thủy sản phát triển nhanh (từ 95 HTX năm 2000 và đến nay là 375 HTX). Tổng số xã viên trong các HTX thuỷ sản là 15.042 hộ xã viên, thành viên, bình quân một HTX có 23 hộ (HTX khai thác -13 hộ, HTX chế biến - 17 hộ, HTX nuôi trồng - 31 hộ, HTX cơ khí -14 hộ, HTX hậu cần, nghề cá - 11). Số lao động có việc làm và thu nhập trực tiếp từ các HTX là 25.000 người([13]). Với nguồn vốn đầu tư 716.337 triệu đồng (bình quân một HTX là 1.087 triệu đồng), hiện nay các HTX đang quản lý số lượng tàu thuyền trên 1.000 chiếc và 10.715 ha nuôi trồng thủy sản.

          Trong thuỷ sản các các mô hình HTX khai thác hải sản (gần 100 HTX), HTX nuôi trồng thuỷ, hải sản (375), HTX dịch vụ hậu cần nghề cá (27 HTX) và HTX cơ khí thuỷ sản (12 HTX). Mô hình HTX điển hình tiên tiến là mô hình hoạt động của các HTX đã gắn kết được giữa đánh bắt, khai thác với chế biến, mở rộng dịch vụ hậu cần nghề cá và hết sức coi trọng khâu tiêu thụ sản phẩm cho các thuyền nghề. Các HTX nuôi trồng thuỷ sản hầu hết đều kinh doanh có lãi, đóng góp một phần quan trọng vào việc cung ứng hải sản cho tiêu dùng và xuất khẩu.

Tuy nhiên, các HTX thuỷ sản quy mô còn nhỏ, thiếu vốn, tính liên kết còn yếu; các HTX đánh bắt hải sản xa bờ gặp nhiều khó khăn, nhiều HTX thua lỗ phải giải thể.

2.3- Trong công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp

Đến 20/6/2007, cả nước có hơn 70.000 tổ hợp tác; có 2.354 HTX công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp với 393.800 xã viên, hộ xã viên và tổng mức vốn đầu tư trên 3.200 tỷ đồng, tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Hồng (35-36%) và vùng Đông Bắc (25-26%)([14]). Các HTX đang hoạt động với mức tăng trưởng ổn định (bình quân 5 năm gần 20%/ năm); góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra nhiều công ăn việc làm, tăng kim ngạch xuất khẩu, rút ngắn khoảng cách về mức sống giữa đô thị và nông thôn. Hoạt động của các HTX tập trung chủ yếu vào các ngành chính, như: chế biến nông – lâm – thuỷ sản, hàng gia dụng, cơ khí lắp ráp và sửa chữa, dệt, thêu ren, da, chạm khảm, gốm sứ tiêu dùng và mỹ nghệ, rượu bia, hoá chất, mây tre, gỗ, đá...

Các HTX công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tổ chức sản xuất theo các mô hình tập trung hoặc kết hợp giữa sản xuất tập trung và dịch vụ cho các hộ. Các mô hình tập trung điển hình là các HTX có hệ thống máy móc thiết bị đồng bộ, quản lý theo các tiêu chuẩn tiên tiến, có thị trường tiêu thụ ổn định. Đối với mô hình hỗn hợp thì HTX tổ chức sản xuất tập trung ở những khâu, như thiết kế mẫu mã, cung ứng nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm; còn các khâu khác của quá trình sản xuất làm ra sản phẩm được tiến hành ở các hộ.Ở một số địa phương có làng nghề đã hình thành mô hình HTX trong các làng nghề, mà hoạt động của HTX chủ yếu tập trung vào cung ứng vật tư, nguyên liệu phục vụ sản xuất cho các hộ làm nghề; hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, tạo dáng sản phẩm, mẫu mã và tìm kiếm thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm của làng nghề, vùng nghề.

Những năm qua, nhiều HTX đã chú trọng huy động các nguồn lực đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị hiện đại, mạnh dạn ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, hoàn thiện tổ chức sản xuất, quản lý. Một số HTX đã áp dụng được hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO, xây dựng và quảng bá thương hiệu sản phẩm để chiếm lĩnh thị trường cả trong nước và xuất khẩu.

Tuy nhiên, đa số các HTX công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp vẫn còn quy mô sản xuất nhỏ, cơ sở vật chất nghèo nàn, trình độ công nghệ lạc hậu, thiết bị máy móc thô sơ, mẫu mã sản phẩm đơn điệu, chưa có thương hiệu nổi bật, tính cạnh tranh thấp và khả năng tiếp cận thông tin thị trường thấp. Một số HTX chưa bảo đảm được đầy đủ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX.

2.4 Trong lĩnh vực xây dựng

Đến 20/6/2007 cả nước có 668 HTX xây dựng, 2 liên hiệp HTX, bình quân một HTX có 17-20 xã viên; lao động bình quân một HTX là 50-55 người. Vốn điều lệ của HTX trung bình từ 0,5 đến 1,2 tỷ đồng. Các HTX xây dựng nhìn chung hoạt động đa ngành nghề, nhưng tập trung phục vụ chủ yếu trong xây lắp những công trình nhỏ lẻ, công trình hạ tầng nông thôn, như các công trình cầu cống, kênh mương nhỏ và đường giao thông nông thôn, khai thác, chế biến vật liệu xây dựng chủ yếu là vật liệu địa phương (cát, đá tự nhiên, vôi...) và mô hình HTX kinh doanh vật liệu xây dựng. Mô hình hoạt động có hiệu quả là mô hình mà hoạt động của HTX gắn kết được giữa xây lắp với sản xuất, chế biến và cung ứng vật liệu xây dựng, như sản xuất gạch, sản xuất xi măng, khai thác cát, đá sỏi,… phục vụ cho các công trình của  mình hoặc cung ứng cho thị trường. Ở một số nơi đã hình thành mô hình liên hiệp HTX xây dựng (như Bắc Giang, Cần Thơ) trong đó có HTX xây lắp, có HTX vật liệu xây dựng.

Nhìn chung, các HTX xây dựng hoạt động ổn định, từng bước thích nghi được với cơ chế thị trường; nhưng hạn chế rất lớn về vốn và điều kiện năng lực hoạt động xây dựng. Việc thành lập mới các HTX xây dựng vừa qua không tăng, nhiều tỉnh, thành phố không có HTX xây dựng.

2.5. Trong lĩnh vực vận tải.

Cả nước có 1.107 HTX (bao gồm cả vận tải đường bộ, đường sông, cả vận tải hành khách và hàng hoá). Các HTX chủ yếu tổ chức theo mô hình dịch vụ hỗ trợ (82,3%). Nguồn vốn đầu tư ước trên 60.000 tỷ đồng, trong đó khu vực HTX đang quản lý 50.000 ô tô khách/80.251 chiếc của cả nước (62,3%), 150.000 ô tô tải/226.888 chiếc (66,11%) của cả nước; 60.000 phương tiện thủy nội địa/95.193 chiếc (63,03%) và khoảng 200.000 ghe khách và 3.000.000 tấn trọng tải. Các HTX đã thu hút trên 120.000 hộ xã viên, thành viên, bình quân một HTX có 98 xã viên, hộ xã viên và 81 lao động[15], vốn điều lệ bình quân là 4,8 tỷ đồng. Sản lượng vận tải của khối HTX hàng năm chiếm 44,9% về tấn, 16,5% về tấn/km, 30% về lượt người và 41% về người/km trong tổng sản lượng vận tải cả nước. Ở một số địa phương, hoạt động của các HTX vận tải chiếm phần lớn thị trường vận tải hành khách, hàng hoá ở địa phương, như thành phố Hồ Chí Minh – 77% nhu cầu vận tải hàng khách, 80% vận tải hàng hoá, Cần Thơ - 60%, Bình Dương – 67%, Kiên Giang – 59%.

Các HTX giao thông vận tải chủ yếu tổ chức theo mô hình dịch vụ hỗ trợ (82,3%). Theo mô hình này phương tiện vận tải vẫn do các hộ xã viên quản lý, HTX lo các khâu: đăng ký lưu hành, bến bãi, luồng tuyến, xử lý rủi ro...  Một số HTX tổ chức hoạt động theo mô hình này do công tác quản lý điều hành có kế hoạch, quản lý được đầu xe, các dịch vụ cho hộ tốt nên được chính quyền nhiều địa phương đánh giá cao bởi phương thức hoạt động có tổ chức, cách thức phục vụ phù hợp, khắc phục có hiệu quả hiện tượng xe dù, bến cóc, góp phần hạn chế mật độ xe trên đường, đảm bảo an toàn giao thông và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Thời gian gần đây, để tăng cường công tác quản lý đầu xe theo quy định của Nhà nước và phòng chống tai nạn giao thông, nhiều HTX tổ chức theo mô hình dịch vụ đã tổ chức lại, hướng dẫn xã viên chuyển đổi sở hữu phương tiện về HTX để quản lý tập trung, hạn chế việc đóng thuế trước bạ cho từng đầu xe và HTX có phương án giao lại chính xe đó cho các xã viên trực tiếp quản lý. Mặt khác, nhiều HTX giao thông vận tải đã chú trọng đầu tư, đổi mới phương tiện, nâng cao chất lượng các khâu dịch vụ, từng bước tăng cường nguồn vốn sở hữu tập thể thông qua mua sắm phương tiện chung của HTX, mở rộng các ngành nghề hoạt động như kinh doanh xăng dầu, vật tư, phụ tùng, bến bãi, kết hợp vận tải hàng khách với du lịch, từ đó hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng cao.

Tồn tại cơ bản của HTX vận tải là mô hình HTX dịch vụ còn lỏng lẻo; HTX chưa chủ động trong việc tổ chức và điều hành sản xuất kinh doanh để hỗ trợ thành viên, chưa nắm chắc được hoạt động cụ thể của các phương tiện tham gia HTX, nhiều trường hợp, sau khi ký kết được hợp đồng vận tải lại không điều hành được xã viên thực hiện hợp đồng; việc mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực xây dựng, quản lý bến bãi, cơ khí sửa chữa, kinh doanh phương tiện vận tải còn yếu.

2.6- Trong lĩnh vực thương mại – dịch vụ

Đến 20/6/2007 cả nước có 651 HTX thương mại – dịch vụ (bình quân hàng năm số HTX thương mại tăng 8,8%). Bình quân một HTX thương mại có 212 xã viên, 13-15 lao động.

Ngoài các mô hình kinh doanh truyền thống, như HTX mua bán, HTX tiêu dùng, HTX kinh doanh tổng hợp, HTX dịch vụ, những năm qua trong lĩnh vực thương mại đã xuất hiện các mô hình mới, như HTX trong trường học (2 HTX), HTX kinh doanh và quản lý chợ (45 HTX), HTX chuyên doanh trái cây, HTX sản xuất bữa ăn công nghiệp, HTX tiêu thụ nông sản....Hiện cả nước có 8 liên hiệp HTX thương mại (thành phố Hồ Chí Minh - 3, Đà Nẵng - 1, Hà Nội - 1, Cần Thơ - 1, Quảng Nam - 1, Đồng Nai - 1); riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, hệ thống siêu thị Co-op Mart của Liên hiệp HTX thương mại thành phố đã chiếm gần 50% thị phần bán lẻ của hệ thống siêu thị toàn thành phố, thu hút gần 30.000 khách hàng mỗi ngày, đạt doanh thu trên 3.000 tỷ đồng/năm, tăng trưởng 30%/năm.

Hoạt động kinh doanh của các HTX thương mại đã góp phần phục vụ sản xuất, ổn định giá cả thị trường và phục vụ đời sống sinh hoạt của người dân với mức tăng trưởng trung bình của tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ xã hội từ 20-23% (luôn cao hơn mức trung bình của cả nước). Mặc dù lợi nhuận của nhiều HTX thương mại còn thấp, nhưng đa số đều kinh doanh có lãi, thu nhập của người lao động tăng - 600.000 - 800.000 đồng/người/tháng (năm 2001 là 450.000 - 500.000 đồng).

Tuy nhiên, quá trình củng cố, phát triển hoạt động thương mại - dịch vụ đạt kết quả chưa cao, diễn ra không đồng đều ở các địa phương. Ở nông thôn, miền núi các HTX gặp nhiều khó khăn. Đến nay, đa số HTX vẫn trong tình trạng bị động, lúng túng trong tổ chức và hoạt động, thiếu vốn và thiếu kinh nghiệm kinh doanh. Một số HTX chỉ hoạt động cầm chừng, không lỗ nhưng hiệu quả hoạt động thấp.

2.7 Trong lĩnh vực tín dụng

Đến 20/6/2007, cả nước có trên 100.000 tổ vay vốn, tổ tín dụng và 942 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, 1 Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương với 24 chi nhánh, hoạt động tại 53 tỉnh, thành phố. Các Quỹ tín dụng nhân dân có 1,25 triệu thành viên (bình quân 1 Quỹ/1.513 thành viên), tổng nguồn vốn hoạt động là 11.550 tỷ đồng; bằng 4,32 lần so với cuối năm 2002 (2.678 tỷ đồng); trong đó, vốn huy động là 8.000 tỷ đồng bằng 4,7 lần so với cuối năm 2002 (1.731 tỷ đồng); tổng dư nợ trong toàn hệ thống là 10.000 tỷ đồng, bằng 4,2 lần năm 2002 (2.354 tỷ đồng); tỷ lệ nợ quá hạn giảm từ 3,42% (2002) xuống còn 0,5% cuối tháng 6/2007.

Hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân nhìn chung có hiệu quả, 99,7% số Quỹ kinh doanh có lãi, chỉ còn 0,3% số Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động yếu kém, không có Quỹ nào mất khả năng thanh toán. Thông qua hoạt động cho vay vốn, Quỹ tín dụng nhân dân đã tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho các thành viên, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xoá đói, giảm nghèo, hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi ở nông thôn; phát triển thị trường tài chính - tín dụng ở nông thôn, tạo cho người dân làm quen với dịch vụ tài chính ngân hàng, có cơ hội mở rộng sản xuất hàng hoá (631.916 lượt thành viên được vay với số tiền trên 8.749 tỷ đồng, trong đó 55% vay đầu tư phát triển sản xuất, 45% - phục vụ hoạt động thương mại, dịch vụ và các nhu cầu sinh hoạt).

Tồn tại và hạn chế hiện nay là một số quỹ chưa bám sát mục tiêu hoạt động là tương trợ giữa các thành viên để phát huy sức mạnh tập thể, giúp đỡ nhau phát triển sản xuất kinh doanh; liên kết hệ thống, hỗ trợ lẫn nhau trong hệ thống giữa Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương và các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở còn hạn chế.

2.8- Các loại hình HTX mới

Cùng với HTX trong các lĩnh vực truyền thống, năm năm qua nhiều mô hình HTX trong các ngành nghề, lĩnh vực mới xuất hiện, như HTX vệ sinh môi trường, HTX trường học, HTX dịch vụ đời sống, HTX dịch vụ điện, HTX du lịch,... Tổng hợp số lượng HTX của các loại hình này là 2.872, trong đó HTX dịch vụ điện là 2.678, HTX môi trường – 76.

Hoạt động của các HTX này thể hiện xu thế mới trong yêu cầu hợp tác để đáp ứng những nhu cầu khác nhau của cộng đồng, góp phần đáp ứng đòi hỏi đa dạng về sản xuất (thu gom rác thải, cung ứng điện, các loại hình dịch vụ đời sống, sản xuất, kinh doanh...), nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, cải thiện các điều kiện sinh hoạt về văn hoá, tinh thần, được đông đảo xã viên và cộng đồng đồng tình.

3. Những yếu kém và tồn tại

Tuy có những chuyển biến tích cực, nhưng những chuyển biến đó vẫn chưa đủ mức để tạo nên bước ngoặt về chất lượng cho sự phát triển của các tổ hợp tác, HTX; các tổ hợp tác, HTX  vẫn trong tình trạng yếu kém, còn nhiều khó khăn và bất cập lớn, cụ thể là:

3.1-. Đối với các tổ hợp tác: Mặc dù là mô hình kinh tế thích hợp với trình độ sản xuất của kinh tế hộ ở nhiều vùng, nhưng tổ hợp tác còn tổ chức thiếu chặt chẽ nên gặp nhiều khó khăn trong giao dịch kinh tế, hầu hết cán bộ tổ hợp tác chưa qua đào tạo nên việc chỉ đạo tổ phát triển sản xuất kinh doanh còn hạn chế. Số tổ có tổ chức chặt chẽ, hoạt động ổn định và có đăng ký với uỷ ban nhân dân xã, phường thấp (15-20%), vốn tài sản ít, nội dung hoạt động còn đơn điệu, thiếu bền vững.

3.2- Đối với các HTX, liên hiệp HTX

a) Tốc độ tăng trưởng không ổn định, còn thấp, chỉ bằng khoảng một nửa tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Năm năm qua, tốc độ tăng trưởng của kinh tế tập thể không những thấp, chỉ bằng khoảng một nửa tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, mà còn không ổn định, đóng góp vào GDP cả nước liên tục giám sút.

Tốc độ tăng trưởng của kinh tế tập thể năm 2002: 4,91%, 2003: 3,43%, năm 2004: 3,83%, năm 2005: 3,82% và năm 2006: ước 3,63%, so với tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế tương ứng là: 7,08%, 7,34%, 7,79%, 8,44% và 8,17%. Trong giai đoạn 1995 – 2001, tốc độ tăng trưởng của kinh tế tập thể đạt bình quân 4,13%/năm, nhưng đến giai đoạn 2002-2006, giảm xuống chỉ còn 3,94%/năm so với tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế một cách tương ứng là: 7,32% và 7,76%. Hiệu quả hoạt động của HTX chưa cao, tác động chưa mạnh tới hoạt động kinh tế và đời sống của xã viên nói riêng và tới toàn bộ nền kinh tế nói chung.

Đóng góp của kinh tế tập thể vào GDP cả nước giảm từ 8,06% năm 2001 xuống còn 7,99% năm 2002, 7,49% năm 2003, 7,09% năm 2004, 6,82% năm 2005 và ước 6,61% năm 2006.

b) Nhiều HTX tổ chức và hoạt động chưa tuân thủ đầy đủ các qui định của Luật HTX; các quan hệ sở hữu, tổ chức quản lý, phân phối trong nhiều HTX còn biểu hiện xa rời bản chất và các giá trị của HTX.

Nhiều HTX nông nghiệp chuyển đổi còn hình thức, chưa đảm bảo đầy đủ yêu cầu của Luật HTX và đòi hỏi phát triển của HTX, nhưng thời gian qua vẫn thiếu tập trung vào việc chấn chỉnh, tổ chức lại cho phù hợp; các xã viên của HTX chuyển đổi khi tham gia HTX nhiều nơi không viết đơn và góp vốn mới, nhiều xã viên không hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình với HTX; xã viên tham gia HTX với ý thức trông chờ vào sự giúp đỡ của tập thể và Nhà nước; tình trạng không rõ ràng về quyền sở hữu tài sản của HTX còn khá phổ biến, nhất là các tài sản gắn với đất đai. Chính vì vậy, nhiều HTX không huy động được nguồn lực từ chính xã viên, thành viên của mình; tính bền vững và ổn định trong tổ chức và hoạt động chưa cao; chưa thực hiện tốt chế độ hạch toán và báo cáo tài chính.

Các HTX chưa quan tâm đến củng cố theo chiều sâu, theo các nguyên tắc HTX, có những HTX được thành lập chủ yếu xuất phát từ nhu cầu pháp nhân để có tư cách hoạt động chứ chưa thực sự xuất phát từ yêu cầu sản xuất, đời sống cần phải hợp tác để tăng thêm sức mạnh; có những HTX hoạt động như doanh nghiệp, quyền quyết định do người góp vốn nhiều chi phối, mục đích chính là tìm kiếm lợi nhuận, ít coi trọng phần tích lũy tập thể để tăng cường nguồn lực cho HTX. Mặt khác, nhiều HTX lại được hình thành với mục đích hưởng lợi từ các chính sách của Nhà nước, vì thế tuy có HTX nhưng xã viên không đóng góp xây dựng HTX, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa biết cách để tổ chức và phát triển HTX của mình.

Mô hình HTX trong một số lĩnh vực chưa thực sự đảm bảo các nguyên tắc và giá trị của HTX. Nhiều HTX sản xuất kinh doanh tập trung chưa chú trọng mở rộng kết nạp xã viên là người lao động thường xuyên trong HTX; các HTX dịch vụ nông nghiệp nơi thì giữ nguyên xã viên cũ cả làng, cả xã, nơi thì thu hẹp lại chỉ những người lao động trực tiếp ở các khâu dịch vụ trong HTX, không có sự phân biệt quyền và lợi ích giữa xã viên với người không phải xã viên; các HTX dịch vụ điện hầu như được tổ chức lại từ các Ban điện xã, chưa thu hút các hộ sử dụng điện tham gia HTX; nhiều HTX dịch vụ vận tải quan hệ giữa Ban quản trị và xã viên lỏng lẻo, HTX không quản lý được việc kinh doanh, khai thác phương tiện, xã viên thực chất tự lo nguồn hàng kinh doanh và chỉ phải nộp một khoản tiền để chi phí cho bộ máy quản lý HTX...

c) Hoạt động của nhiều HTX hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu về sản xuất, đời sống ngày càng tăng của xã viên và cộng đồng; năng lực quản lý yếu trình độ công nghệ lạc hậu kéo dài dẫn đến cạnh tranh kém.

Các HTX là những tổ chức có nội dung hoạt động kinh tế - xã hội phức tạp, quy mô thành viên và lao động lớn nhưng năng lực nội tại cả về vốn, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, trình độ quản lý rất yếu và tình trạng này kéo dài liên tục trong nhiều năm. Điều tra tại 1.709 HTX cho thấy 52% số HTX chưa có trụ sở làm việc, vốn điều lệ bình quân thấp (HTX nông nghiệp - 354,731 triệu đồng, HTX công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - 741,344 triệu đồng); máy móc phương tiện làm việc chỉ có 27,5% đáp ứng đủ, 45,4% - chưa đáp ứng, 27,1% rất thiếu; chỉ có 40,2% HTX có máy vi tính, 15,3% có kết nối mạng nội bộ, 18,7% có kết nối Internet và 3,1% có Website riêng([16])

Các HTX nông nghiệp có 25% vẫn ở quy mô thôn, ấp; 38% HTX chưa có trụ sở riêng mà phải mượn tạm phòng làm việc trong trụ sở UBND xã hoặc nhờ địa điểm tại nhà cán bộ HTX. Vùng đồng bằng sông Cửu Long có 764 HTX thì 604 HTX chưa có trụ sở làm việc (79%). Các HTX phi nông nghiệp phần nhiều máy móc thiết bị cũ, lạc hậu, năng suất chất lượng sản phẩm thấp, kiểu dáng mẫu mã đơn điệu, kém sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường.

Hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ của nhiều HTX hiệu quả còn thấp, lợi ích mang lại cho xã viên, thành viên ít, chưa thiết thực nên xã viên còn thiếu tin tưởng vào HTX; nhiều HTX tuy có lãi nhưng số lãi thu được không cao, thậm chí chỉ đủ trang trải các khoản chi phí, không đủ để trích các quỹ và tích luỹ để mở rộng hoạt động.

d) Nhìn chung trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý các HTX  còn yếu.

Trong nông nghiệp, hiện có tới 28% chủ nhiệm HTX có trình độ văn hoá cấp I, 37% cấp II, đa số cán bộ chủ chốt chỉ được đào tạo qua các khoá tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn ngày; tình trạng chủ nhiệm HTX vừa được đào tạo lại chuyển sang làm công tác chính quyền để có chế độ ổn định hơn diễn ra khá phổ biến. Trong lĩnh vực phi nông nghiệp, chất lượng cán bộ quản lý HTX có cao hơn (nhất là các Quỹ tín dụng nhân dân, HTX công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, thương mại - dịch vụ), nhưng vẫn còn gần 40% có trình độ cấp I, II,  chỉ có khoảng 20% cán bộ chủ chốt HTX có trình độ từ trung cấp trở lên. Mặc dù Nghị quyết Trung ương 5 về kinh tế tập thể đã có 5 năm nay nhưng qua điều tra chỉ có 33% chủ nhiệm HTX biết cụ thể về Nghị quyết Trung ương 5, 62,4% - được học và đọc kỹ về Luật HTX. Khu vực này cũng không hấp dẫn với đội ngũ cán bộ quản lý, khoa học có trình độ chuyên môn cao, thậm chí một số địa phương có chính sách hỗ trợ cán bộ khoa học kỹ thuật về làm việc tại HTX nhưng cũng không thu hút được.

e) Hoạt động của các HTX còn thiếu gắn bó với nhau, chưa có sự liên kết hệ thống cả về kinh tế, xã hội và tổ chức.

Các hoạt động liên kết, liên doanh trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ giữa các HTX với nhau còn ít, nội dung hạn chế. Tuy đã xây dựng được một số liên hiệp HTX trong những năm qua, nhưng quy mô còn hạn chế, liên kết nội tại còn thiếu chặt chẽ, hiệu quả hoạt động chưa cao, hỗ trợ HTX thành viên còn ít. Các tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước liên kết với khu vực HTX còn ít.

III- ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT, NGUYÊN NHÂN

1- Đánh giá tổng quát 

Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) về kinh tế tập thể đã từng bước đi vào cuộc sống. Với những tác động tích cực từ quá trình tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết, 5 năm qua, khu vực kinh tế tập thể có những chuyển biến tích cực. Số tổ hợp tác tiếp tục tăng lên, các HTX cũ về cơ bản đã chuyển đổi xong và giải thể các HTX còn tồn tại hình thức; số HTX thành lập mới nhiều hơn trước với các mô hình đa dạng. Kinh tế tập thể đã khắc phục được một phần tình trạng yếu kém, được củng cố một bước về tổ chức, nâng cao năng lực nội tại, tích luỹ đầu tư phát triển và đáp ứng ngày càng nhiều hơn nhu cầu, lợi ích của các thành viên. Số HTX có lãi tăng dần lên, yếu kém giảm đi. Đây là kết quả rất quan trọng, tạo tiền đề để tiếp tục củng cố, đổi mới và phát triển kinh tế tập thể trong những năm tới.

Tuy vậy, việc khắc phục những hạn chế và yếu kém của khu vực kinh tế tập thể còn chậm. Kinh tế tập thể chưa thoát khỏi yếu kém kéo dài. Số tổ hợp tác có góp vốn, góp sức và đăng ký hoạt động với chính quyền còn ít, hoạt động của HTX còn hạn chế, chưa mang lại nhiều lợi ích về kinh tế, xã hội cho xã viên, thành viên. Một bộ phận quan trọng HTX (nhất là các HTX nông nghiệp và ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, Bắc Trung Bộ là nơi có số lượng HTX cũ chuyển đổi lớn nhất) sau chuyển đổi chưa được củng cố theo các nguyên tắc của Luật HTX và khó vươn lên được. Tốc độ tăng trưởng chỉ bằng một nửa so với bình quân cả nước, tỷ trọng đóng góp của HTX vào GDP giảm.

2- Nguyên nhân

2.1- Nguyên nhân của những kết quả trên là do:

- Tính đúng đắn của Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) về kinh tế tập thể; Nghị quyết ra đời đã có tác dụng nhiều mặt và trực tiếp đến củng cố, đổi mới và thúc đẩy HTX phát triển. Đặc biệt, Nghị quyết đã làm chuyển biến về nhận thức, định hướng được tư tưởng, qua đó hành động từ trong Đảng ra nhân dân có sự tập trung, thống nhất hơn trước đây.

 - Một số cơ chế, chính sách của Trung ương và địa phương bắt đầu phát huy tác động đổi mới, phát triển HTX.

- Các cấp uỷ các địa phương và các bộ, ngành Trung ương đã quan tâm hơn đến chỉ đạo và tổ chức triển khai công tác phát triển kinh tế tập thể. Kinh nghiệm cho thấy, địa phương nào thường xuyên quan tâm chỉ đạo thì kinh tế tập thể có điều kiện thuận lợi để phát triển.

- Một bộ phận tổ hợp tác, HTX đã biết phát huy nội lực, tranh thủ các điều kiện để phát triển, đặc biệt là ở những cơ sở có đội ngũ cán bộ giỏi, tâm huyết với HTX. Thực tế cho thấy, nơi nào cán bộ quản lý HTX giỏi, tâm huyết, nơi đó HTX hoạt động có hiệu quả và xã viên gắn bó với HTX hơn.

2.2- Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém là do:

a) Năng lực nội tại, điều kiện triển khai các hoạt động, đặc biệt là mặt bằng, vốn, cơ sở vật chất, công nghiệp và trình độ quản lý của các HTX thấp, yếu; nhiều tổ hợp tác, HTX còn lúng túng, thiếu định hướng hoạt động rõ ràng, lợi ích mang lại cho xã viên, thành viên ít, không đáp ứng được các nhu cầu và đòi hỏi bức xúc của xã viên, thành viên về nguồn vật tư đầu vào, công nghệ sản xuất kinh doanh, vốn tín dụng, thị trương tiêu thụ sản phẩm... nên xã viên, thành viên còn thờ ơ, thiếu gắn bó với HTX; đội ngũ cán bộ quản lý HTX cũng còn nhiều yếu kém; tâm lý ỷ lại, dựa dẫm trong xã viên, HTX còn lớn; mô hình HTX cũ tồn tại quá lâu, in đậm trong nhận thức của nhân dân.

b) Nguyên nhân trong thực hiện Nghị quyết:

Công tác nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến các nghị quyết của Đảng về kinh tế tập thể, Luật HTX và các chính sách đối với HTX làm chưa tốt; chưa chú trọng tổ chức thông tin, phổ biến đến dân. Các cơ quan thông tin đại chúng ở Trung ương và địa phương chưa quan tâm đến phổ biến các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế tập thể.

Nhận thức của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên về các đường lối, quan điểm phát triển kinh tế tập thể, về bản chất và mô hình HTX mới chưa đầy đủ; dẫn đến trong chỉ đạo vừa có biểu hiện lúng túng, buông lỏng hoặc can thiệp quá sâu vào tổ chức, hoạt động của HTX.

+ Chưa quan tâm đầy đủ đến công tác tổng kết và xây dựng mô hình HTX phù hợp với điều kiện thực tế từng ngành, địa bàn hoặc lĩnh vực; công tác nghiên cứu lý luận, đúc rút kinh nghiệm trong nước, nước ngoài để vận dụng, xây dựng, phát triển kinh tế tập thể chưa được chú trọng; việc nhân rộng các mô hình làm ăn có hiệu quả còn hạn chế.

+ Hệ thống chính sách ban hành chậm, thiếu đồng bộ, tổ chức thực hiện còn yếu kém. Việc thể chế hoá Nghị quyết và cụ thể hoá thực hiện Luật HTX sau 5 năm vẫn chưa ban hành đủ các các văn bản hướng dẫn theo yêu cầu. Việc thực hiện chính sách chưa nghiêm, thiếu giúp đỡ và hướng dẫn HTX. Đặc biệt, các chính sách và biện pháp hỗ trợ HTX chưa rõ nét; nội dung chính sách và nguồn lực thực hiện ít lại phân tán nên chính sách chưa có tác dụng cao để tạo điều kiện cho các HTX củng cố, phát triển.

 + Các cấp uỷ đảng và chính quyền chưa đề cao ý thức trách nhiệm,  chưa xác định được phát triển kinh tế tập thể, HTX là một nhiệm vụ trọng tâm và thường xuyên, vì thế trong chỉ đạo chưa quan tâm đến phát triển HTX. Nhiều cấp uỷ địa phương tuy có nghị quyết, chương trình hành động, nhưng thiếu kiểm tra, đôn đốc thường xuyên. Các cơ quan nhà nước, cơ quan hoạch định chính sách chưa đưa nội dung phát triển kinh tế tập thể vào quá trình xây dựng và triển khai các chương trình, dự án, đề án phát triển kinh tế – xã hội, phát triển vùng, địa bàn hoặc địa phương, thiếu các nguồn lực triển khai hỗ trợ kinh tế tập thể.

Vì vậy, trong thời gian tới, một mặt phải tập trung củng cố phát triển HTX theo chiều sâu, đảm bảo các quy định của Luật HTX và xây dựng, nhân rộng các mô hình tổ hợp tác, HTX tiêu biểu; mặt khác phải có biện pháp quyết liệt triển khai chính sách đến được với các HTX, các hộ xã viên thì mới tạo được những chuyển biến thực sự.

IV- CÁC CHỦ TRƯƠNG, GIẢI PHÁP CẦN TIẾP TỤC THÚC ĐẨY ĐỂ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

Nghị quyết Trung ương 5 về kinh tế tập thể xác định mục tiêu đến năm 2010 là đưa khu vực kinh tế tập thể thoát khỏi những yếu kém, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn, tiến tới có tỷ trọng ngày càng lớn trong GDP của nền kinh tế.

Những năm qua, mặc dù chưa có sự tác động lớn phía chỉ đạo, chính sách nhưng số lượng tổ hợp tác, HTX tập hợp hàng triệu người lao động, hộ cá thể đã tăng đáng kể, một bộ phận HTCX được củng cố cả về tổ chức và hoạt động, đã có những mô hình mới, điển hình tiên tiến xuất hiện; điều đó phản ánh nhu cầu thực tế khách quan và nguyện vọng của người dân về phát triển kinh tế tập thể. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, những người lao động, hộ kinh tế cá thể, các doanh nghiệp nhỏ càng có yêu cầu phải liên kết, hợp tác với nhau để cùng phát triển và đứng vững trong cạnh tranh.

Phát triển kinh tế tập thể trong những năm tới cần hết sức đa dạng, trên cơ sở liên kết rộng rãi những người lao động, các hộ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn. Phát triển kinh tế tập thể phát phù hợp với tính chất của lực lượng sản xuất, phù hợp với mong muốn và nguyện vọng của người dân với phương châm tích cực nhưng vững chắc, xuất phát từ nhu cầu thực tế, không chủ quan duy ý chí, nóng vội hoặc gò ép. Tập trung củng cố lại các HTX theo chiều sâu, với nhiều mô hình đa dạng, coi trọng hiệu quả hoạt động và mang lại các lợi ích thiết thực cả về kinh tế, xã hội cho xã viên, thành viên.

Để thực hiện được những mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế tập thể nêu trên, phải tiếp tục quán triệt 5 quan điểm phát triển kinh tế tập thể đã xác định trong Nghị quyết. Đồng thời, cũng cần thấy rõ rằng phát triển kinh tế tập thể phải rất kiên trì và toàn diện, bởi vì đây là một sự nghiệp vô cùng khó khăn, phức tạp, liên quan đến sự vận động, tới kinh tế, đời sống của hàng triệu hộ xã viên, của hàng chục triệu người lao động, những người sản xuất, kinh doanh nhỏ trong các lĩnh vực, ngành nghề, đặc biệt ở nông thôn và những tầng lớp có thu nhập thấp, nghèo ở thành thị. Do đó, cần phải tập trung quan tâm cao hơn nữa đối với phát triển kinh tế tập thể.

Đề nghị các cấp, các ngành và địa phương tập trung thực hiện các giải pháp như sau:

1- Tập trung triển khai mạnh công tác tuyên truyền, thống nhất nhận thức, tạo môi trường tâm lý thuận lợi cho kinh tế tập thể phát triển.

Các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên nhất là những cơ quan, đơn vị, các nhân có trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể cần tiếp tục tổ chức học tập nghiên cứu, quán triệt sâu sắc hơn 5 quan điểm phát triển kinh tế tập thể đã xác định trong Nghị quyết, nhận thức đúng và đầy đủ hơn về bản chất và mô hình HTX kiểu mới, đồng thời đẩy mạnh rõ nét công tác tuyên truyền với nhiều biện pháp thiết thực, hấp dẫn và đến được với các tổ hợp tác, HTX và đông đảo người dân.

+ Xây dựng và thực hiện chương trình tuyên truyền về kinh tế tập thể, trước mắt đến năm 2010 và bố trí kinh phí thoả đáng cho hoạt động này; giao Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Truyền hình, phát thanh các địa phương xây dựng và tổ chức các chuyên mục thích hợp, phát sóng định kỳ để tuyên truyền về kinh tế tập thể; các cơ quan báo chí cả ở Trung ương và địa phương tăng cường các bài viết về kinh tế tập thể.

+ Đưa nội dung về kinh tế tập thể vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng của các trường Đảng, trường hành chính và các chương trình giảng dạy của các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề như Nghị quyết đã xác định.

2- Đẩy nhanh việc ban hành và hướng dẫn thực hiện đồng bộ các chính sách đã nêu trong Nghị quyết; sửa đổi, bổ sung một số chính sách hỗ trợ HTX trong điều kiện mới.

2.1- Khẩn trương rà soát các chính sách đã ban hành để kịp thời sửa đổi, bổ sung, đảm bảo chính sách khả thi, phù hợp với điều kiện đặc thù của kinh tế tập thể.

2.2- Về thể chế hoá và hướng dẫn triển khai thực hiện các chính sách đã xác định trong Nghị quyết.

+ Chính sách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực: Hướng dẫn cụ thể chính sách tăng cường cán bộ quản lý và khoa học kỹ thuật về làm việc tại HTX.

+ Chính sách bảo hiểm xã hội: Hướng dẫn cụ thể chính sách bảo hiểm xã hội cho cán bộ quản lý, xã viên và người lao động trong HTX phù hợp với các tính chất đặc thù của tổ chức kinh tế này.

+ Chính sách đất đai, Nghị quyết, Luật HTX và nghị định của Chính phủ đã quy định cụ thể chính sách đất đai với HTX, đề nghị:

- Hướng dẫn cụ thể việc bảo đảm mặt bằng cho các HTX ở nông thôn triển khai các hoạt động dịch vụ kinh tế, dịch vụ đời sống, dịch vụ xã hội, các hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác (không chỉ mặt bằng làm trụ sở) thông qua cấp hoặc giao đất.

- Đối với các HTX phi nông nghiệp cần hướng dẫn cụ thể mức giảm nộp tiền thuê đất và thủ tục, trình tự hoàn trả cho HTX kinh phí do HTX đầu tư khai phá, tôn tạo, khi chuyển sang chế độ thuê.

- Đối với các HTX đang sử dụng hoặc đã được giao đất để triển khai các hoạt động dịch vụ hỗ trợ xã viên, thành viên, cơ sở dịch vụ sản xuất kinh doanh, dịch vụ cộng đồng và trụ sở hoạt động... cần khẩn trương hỗ trợ HTX làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

+ Chính sách tài chính, tín dụng

- Về tài chính: Nghị quyết đã quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong một thời gian nhất định đối với HTX nông, lâm, diêm, ngư nghiệp mới chuyển đổi hoặc thành lập mới. Vấn đề này đã được quy định trong các nghị định của Chính phủ nhưng mức độ lại khác nhau và chưa có hướng dẫn cụ thể nên ở nhiều địa phương chưa thực hiện. Có hướng dẫn đồng bộ chính sách này đối với HTX.

- Về tín dụng:

· Tiếp tục củng cố, phát triển hệ thống quỹ tín dụng nhân dân theo hướng mở rộng phạm vi thành lập ở những nơi có điều kiện và cho phép các quỹ thu hút vốn, cho vay, liên kết, hợp tác với các HTX khác. Cơ cấu, tổ chức lại Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương và các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở theo hướng hình thành hệ thống thống nhất về hoạt động, tổ chức và đáp ứng nhu cầu tín dụng của khu vực HTX.

· Tổng kết, rút kinh nghiệm hoạt động tín dụng nội bộ trong HTX nông nghiệp và tiếp tục thúc đẩy hoạt động tín dụng nội bộ các HTX ở khu vực nông thôn.

+ Chính sách hỗ trợ về khoa học, công nghệ và môi trường.

- Hướng dẫn cụ thể về nội dung và cơ chế hỗ trợ khoa học - công nghệ đối với HTX.

- Hướng dẫn về cơ chế hỗ trợ kinh phí cho các HTX tổ chức tập huấn cho xã viên tiếp thu công nghệ mới thuộc chương trình xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và miền núi.

+ Chính sách hỗ trợ tiếp thị và mở rộng thị trường.

Hướng dẫn cụ thể về chính sách đối với HTX trong hoạt động xúc tiến thương mại, xây dựng và quảng bá thương hiệu theo Nghị quyết của Chính phủ.

2.3- Đề nghị Ban Bí thư chỉ đạo triển khai thực một số chủ trương, biện pháp mới như sau:

Xây dựng và triển khai chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn HTX và xã viên, người lao động trong HTX từ nay đến năm 2020. Đề nghị Chính phủ xem xét, phê duyệt, bố trí kinh phí từ nguồn Trung ương và huy động từ nguồn địa phương để triển khai chương trình.

Cho phép cán bộ quản lý và nghiệp vụ lâu năm trong HTX được truy nộp bảo hiểm xã hội tính từ khi có Luật HTX năm 1996.

Cho phép để lại 100% thuế thu nhập doanh nghiệp cho các HTX ở nông thôn, 50% - đối với HTX phi nông nghiệp ở khu vực thành thị như là một phần công trợ của Nhà nước để lại cho HTX đầu tư mở rộng sản xuất, dịch vụ, tích luỹ tài sản chung không chia cho xã viên và trong trường hợp giải thể phải hoàn trả lại phần vốn này cho Nhà nước.

Có cơ chế thích hợp để huy động nguồn lực của Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Phát triển Việt Nam tập trung hỗ trợ có mục tiêu các dự án đầu tư của khu vực kinh tế tập thể. Tạo điều kiện để xây dựng các Ngân hàng hợp tác phục vụ nhu cầu tín dụng của các HTX theo Luật các tổ chức tín dụng.

+ Trong quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp, các tổ chức sự nghiệp Nhà nước, nhất là các đơn vị có cung ứng nguyên, nhiên liệu đầu vào, tiêu thụ sản phẩm đầu ra và chuyển giao công nghệ kỹ thuật cho các HTX, đề nghị Nhà nước có cơ chế phù hợp tạo điều kiện cho các tổ hợp tác, HTX trở thành cổ đông chiến lược hoặc dành tỷ lệ cổ phần ưu đãi nhất định cho các tổ hợp tác, HTX tham gia.

+ Xây dựng và triển khai Đề án củng cố, tổ chức lại các HTX nông nghiệp đã chuyển đổi ở khu vực đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ.

2.4- Tăng cường công tác thông tin, phổ biến chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với các tổ hợp tác, HTX và tổ chức thi hành triệt để các chính sách đã ban hành để chính sách đến được với HTX và người dân, nhất thiết không để tình trạng có chủ trương hỗ trợ cụ thể mà HTX không được hưởng. Đối với các chính sách không phù hợp, thiếu tính khả thi cần sửa đổi, bổ sung kịp thời.

3. Chú trọng tăng cường công tác quản lý của Nhà nước đối với kinh tế tập thể

- Để triển khai tích cực các nhiệm vụ Nghị quyết đã nêu, các cấp chính quyền cần tập trung vào nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với HTX, theo đó:

 · Trên cơ sở quy hoạch chung, quy hoạch phát triển ngành và vùng, tập trung xây dựng các chương trình, chiến lược phát triển kinh tế tập thể và đề ra các giải pháp, cân đối các nguồn lực để triển khai. Tập trung phát triển kinh tế tập thể ở khu vực nông nghiệp, nông thôn và những vùng sản xuất hàng hoá (đồng bằng Nam Bộ, đồng bằng Bắc Bộ, duyên hải miền Trung).

· Trong hoạch định chính sách, xây dựng các chương trình, chiến lược, dự án, đề án phát triển kinh tế – xã hội, phát triển vùng, ngành và địa phương, các cơ quan Nhà nước, cơ quan nghiên cứu, cơ quan hoạch định chính sách có biện pháp lồng ghép nội dung, nhiệm vụ phát triển kinh tế tập thể và cân đối, bố trí các nguồn lực triển khai; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế tập thể.

· Chủ động rà soát, ban hành, bổ sung, xây dựng các chính sách khuyến khích phát triển HTX đã xác định trong Nghị quyết cho đến nay chưa có hướng dẫn hoặc hướng dẫn không còn phù hợp, cũng như các chủ trương, chính sách mới qua tổng kết lần này.

· Các địa phương tập trung nghiên cứu và xây dựng các mô hình HTX phù hợp, tổng kết, phổ biến nhân rộng các mô hình, các điển hình tiên tiến, chú trọng đến các mô hình được tổ chức và hoạt động theo đúng các quy định của Nghị quyết và Luật HTX, đúng bản chất và các nguyên tắc, giá trị của HTX, hoạt động có hiệu quả cả về kinh tế, xã hội, cả về hiệu quả của HTX và hiệu quả của các thành viên.

· Đẩy mạnh quan hệ phối hợp, thông tin giữa các cơ quan Nhà nước trong việc xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình, dự án, đề án các chính sách đối với HTX.

· Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với kinh tế tập thể cần cụ thể, phù hợp với yêu cầu, điều kiện thực tế; không nhất thiết tất cả các bộ, ngành đều có vụ, các sở, ngành ở tỉnh có phòng, nhưng nhất thiết các cấp từ Trung ương đến cơ sở phải bố trí một bộ phận hoặc cán bộ chuyên trách về kinh tế tập thể. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về HTX cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về HTX ở các cấp.

4- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của Liên minh HTX Việt Nam và các tổ chức, đoàn thể trong phát triển kinh tế tập thể

- Các cấp uỷ Đảng cần nhận thức rõ, đồng thời xác định rõ trách nhiệm đối với các cấp chính quyền chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể là một nhiệm vụ trọng tâm và thường xuyên; đôn đốc, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết quyết liệt hơn; tiếp tục tăng cường công tác nghiên cứu lý luận về HTX, tổ chức quán triệt, phổ biến Nghị quyết trong Đảng và quần chúng nhân dân nhằm tạo sự đồng thuận và nhận thức đúng đắn về bản chất, vị trí, vai trò của kinh tế tập thể, về mô hình HTX kiểu mới; chỉ đạo củng cố và duy trì hoạt động của Ban Chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể ở tỉnh, huyện, xã theo đúng chức năng, nhiệm vụ được giao, tránh hình thức; coi trọng công tác kiểm tra và định kỳ sơ kết để tập trung tháo gỡ khó khăn cho HTX và có giải pháp thiết thực thực hiện Nghị quyết; tăng cường công tác xây dựng, củng cố tổ chức đảng trong các HTX theo quy định của Ban Bí thư và hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.

- Củng cố hệ thống Liên minh HTX Việt Nam và tăng cường vai trò, trách nhiệm của Liên minh trong phát triển kinh tế tập thể như Nghị quyết đã xác định; các cấp uỷ, các cơ quan Nhà nước tạo điều kiện về các mặt để Liên minh triển khai các nhiệm vụ được giao, đặc biệt là triển khai các nhiệm vụ hỗ trợ phát triển HTX về đào tạo, tín dụng, tổ chức cung ứng vật tư và tiêu thụ sản phẩm cho các HTX, hộ xã viên.

- Đảng đoàn Quốc hội có chương trình giám sát việc thi hành Luật HTX.

- Củng cố hệ thống Liên minh HTX Việt Nam và tăng cường vai trò, trách nhiệm của Liên minh trong phát triển kinh tế tập thể như Nghị quyết đã xác định; các cấp uỷ, các cơ quan Nhà nước tạo điều kiện để Liên minh triển khai các nhiệm vụ được giao, đặc biệt là triển khai các nhiệm vụ hỗ trợ phát triển HTX về đào tạo, tín dụng, tổ chức cung ứng vật tư và tiêu thụ sản phẩm cho các HTX, hộ xã viên.

- Mặt trận Tổ quốc có chương trình phối hợp hành động trong phát triển kinh tế tập thể với các tổ chức đoàn thể thành viên và Liên minh HTX Việt Nam; các đoàn thể nhân dân phát huy và làm tốt hơn nữa công tác vận động, giáo dục quần chúng, hội viên, thành viên tự nguyện tham gia phát triển kinh tế hợp tác, HTX; tăng cường quan hệ phối hợp với Liên minh HTX Việt Nam trong phát triển kinh tế tập thể.

5- Để tăng cường chỉ đạo và phối hợp trong tổ chức thực hiện đường lối, chính sách phát triển kinh tế tập thể của Đảng, Nhà nước, tiếp tục củng cố Ban Chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể ở các địa phương, phân công rõ một đồng chí trong cấp uỷ, chính quyền phụ trách, chịu trách nhiệm về công tác này. Ở Trung ương, đề nghị Chính phủ phân công một Phó Thủ tướng phụ trách về kinh tế tập thể.

IV- KIẾN NGHỊ

+ Đề nghị Ban Bí thư ban hành Chỉ thị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX), Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X về kinh tế tập thể, xác định rõ những giải pháp cần quán triệt và tổ chức thực hiện.

+ Ban cán sự đảng bộ, ngành chỉ đạo thực hiện các vấn đề liên quan đề trách nhiệm của bộ, ngành mình trong thực hiện Nghị quyết; đồng thời coi trọng việc chỉ đạo xây dựng, tổng kết và hướng dẫn để nhân rộng các mô hình HTX trong từng lĩnh vực cho phù hợp.

+ Các tỉnh uỷ, thành uỷ có nghị quyết, chỉ thị hoặc các hình thức văn vảo thích hợp để lãnh đạo, chỉ đạo việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết; chỉ đạo và rà soát lại các chương trình, đề án, kế hoạch của tỉnh uỷ, thành uỷ về thực hiện Nghị quyết để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp và chỉ đạo quyết liệt việc triển khai các chính sách hỗ trợ HTX đã xác định trong chương trình, đề án, kế hoạch của các cấp uỷ, tổ chức đảng.

                                                            BAN CHỈ ĐẠO TỔNG KẾT



([1]) Báo cáo sơ kết 1 năm thực hiện NQTW 5 của Ban KTTW

(*) 100% báo cáo tổng kết của các địa phương, bộ, ngành đều có nêu nhận định, đánh giá này.

([2]) Nghị định số 177/2004/NĐ-CP ngày 12/10/2004 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật HTX năm 2003; Nghị định số 77/2005/NĐ-CP ngày 02/6/2005 ban hành mẫu hướng dẫn xây dựng điều lệ HTX; Nghị định số 87/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 về đăng ký kinh doanh HTX; Nghị định số 88/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 về một số chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển HTX.

([3]) Thông tư số 05/2005/TT-BKH ngày 25/12/2005 hướng dẫn về đăng ký kinh doanh đối với HTX, Thông tư số 04/2004/TT-BKH ngày 13/12/2004 hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển khu vực kinh tế tập thể 5 năm 2006-2010, Thông tư số 01/2006/TT-BKH ngày 19/01/2006 hướng dẫn tiêu chí đánh giá và phân loại HTX, Thông tư số 02/2006/TT-BKH hướng dẫn thực hiện một số điều tại Nghị định số 88/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ về một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển HTX. Thông tư số 31/2002/BTC ngày 29/3/2002 hướng dẫn việc xử lý nợ tồn đọng của các HTX nông nghiệp, Thông tư số 09/2004/TT-BTC ngày11/01/2004 hướng dẫn triển khai xử lý nợ tồn đọng của các HTX phi nông nghiệp, Thông tư số 42/2003/TT-BTC ngày 07/5/2003 hướng dẫn bổ sung việc miễn thuế môn bài đối với các tổ dịch vụ, cửa hàng, cửa hiệu thuộc HTX hoạt động dịch vụ kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp, Thông tư số 66/2006/TT-BTC ngày 17/7/2006 về chế độ tài chính hỗ trợ các sáng lập viên HTX chuẩn bị thành lập, các đối tượng đào tạo, bồi dưỡng của HTX. Thông tư số 07/2003/TT-BLĐTBXH ngày 12 tháng 3 năm 2003 quy định việc tham gia BHXH của xã viên, người lao động làm việc trong các HTX; tiếp đó là Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/01/2007 (thực hiện từ 1/7/2007). Thông tư 03/2003/TT-NHNN ngày 24/02/2003 hướng dẫn mức cho vay không phải bảo đảm bằng tài sản đối với một số HTX, Thông tư số 06/2004/TT-NHNN ngày 27/9/2004 hướng dẫn về tín dụng nội bộ HTX, Thông tư 04/2007/TT-NHNN ngày 13/6/2007 sửa đổi bổ sung Thông tư 06 ngày 27/9/2004, Thông tư 01/2002/TT-NHNN và 01/2004/TT-NHNN về xử lý nợ tồn đọng của các HTX nông nghiệp, phi nông nghiệp

 

([4]) Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết của Bộ Lao động Thương binh và xã hội

([5]) Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

([6]) Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

([7]) Số liệu điều tra của Liên minh HTX Việt Nam

([8])  Số liệu điều tra của Liên minh HTX Việt Nam 

([9])  Số liệu điều tra của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn 
([10])  Báo cáo tổng kết của Ban chỉ đạo tổng kết kinh tế hợp tác, HTX

([11]) Các biểu 9, 10, 11, 12 (kèm theo báo cáo tổng kết)

([12])Số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

([13]) Báo cáo của Bộ Thuỷ sản

([14]) Báo cáo của Bộ Công nghiệp

[15] Báo cáo Bộ Giao thông vận tải


Ý kiến của bạn
Họ tên   *
Địa chỉ
Email *
Nội dung
*
Cập Nhật Hủy
Các tin đã đưa
Giảm chi phí sản xuất nông nghiệp trong tiến trình hội nhập - (17/04)
Điều lệ Liên hiệp hợp tác xã Tiến Thành tỉnh Bắc Ninh - (17/04)
Ngành bán lẻ sau 1 năm gia nhập WTO - Bài 2: Ai sẽ làm chủ hệ thống phân phối… - (16/04)
Ngành bán lẻ sau 1 năm gia nhập WTO - Bài 1: Hụt hơi trước thị trường lớn - (16/04)
Đừng để người nghèo bị gạt ra bên lề - (16/04)
Cần một khoán 10 nữa cho nông thôn - (16/04)
Công nghiệp hoá, đô thị hoá nông thôn: Người nghèo cần chính sách - (16/04)
Kế hoạch tuyên truyền phát triển kinh tế tập thể năm 2008 của Liên minh HTX tỉnh Sơn La - (14/04)
In ấn  Nhận xét  Nhận xét  Gửi Email  Quay lại
Giới thiệu quảng bá