Thư điện tử  |  Sơ đồ trang  |  Diễn đàn  |  Liên hệ  |  English  |  Đăng Nhập
Nghiên cứu - Trao đổi

Giải pháp, kiến nghị phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa

11:36-22/07/2008

Giới thiệu nghiên cứu của Nguyễn Văn Trung, học viên cao học INTERNATIONAL EXECUTIVE MBA PROGRAM (leMBA)Chương trình Cao học Quản trị kinh doanh Quốc tế

4.1. Quan điểm, mục tiêu và phương thức đưa ra giải pháp

4.1.1. Quan điểm phát triển DNNVV

Thứ nhất, thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Các DNNVV thuộc các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước luật pháp và các cam kết WTO của Việt Nam, bãi bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử.

Thứ hai, phát triển DNNVV đạt nhiều mục tiêu về kinh tế và xã hội. Mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp đồng thuận với mục tiêu xã hội mà Chính phủ quan tâm, lồng ghép nhiệm vụ kinh tế với xã hội bằng các đơn đặt hàng  của Chính phủ.

Thứ ba, hoạt động trợ giúp của Nhà nước chuyển hẳn từ hỗ trợ trực tiếp sang hỗ trợ gián tiếp. DNNVV tự phát huy nội lực vượt qua rào cản, tận dụng các cơ hội từ môi trường kinh doanh và hỗ trợ gián tiếp của nhà nước.

Thứ tư, gắn hoạt động kinh doanh bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường hiện tại và tương lai. Yếu tố môi trường sẽ ngày càng trở lên thách thức đối với DNNVV bởi sự phát triển bền vững cũng như kiểm soát nghiêm ngặt của các nhà nhập khẩu, người tiêu dùng và pháp luật. Vì không bảo đảm môi trường, sản phẩm có thể bị tẩy chay.

Thứ năm, nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền về vị trí, vai trò của DNNVV, phát huy vai trò các hiệp hội của DNNVV như Hiệp hội DNNVV, Liên minh HTX Việt Nam, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, hiệp hội và câu lạc bộ của doanh nhân tạo ra sự thồng thuận và hài hoà lợi ích của các bên : nhà nước-hiệp hội- DNNVV-và xã hội.

4.1.2. Mục tiêu

Mục tiêu của kế hoạch phát triển DNNVV 5 năm 2006-2010 theo Quyết định 236/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ : Đẩy nhanh tốc độ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp ngày càng cao vào tăng trưởng cho nền kinh tế:

 

-  Số doanh nghiệp nhỏ và vừa thành lập mới khoảng 320.000 (hàng năm tăng khoảng 22%);

 

- Tỷ lệ tăng trưởng doanh nghiệp nhỏ và vừa thành lập mới tại các tỉnh khó khăn là 15% đến năm 2010;

 

- Tỷ lệ trực tiếp tham gia xuất khẩu đạt từ 3 - 6% trong tổng số doanh nghiệp nhỏ và vừa;

 

-  Tạo thêm khoảng 2,7 triệu chỗ làm mới trong giai đoạn 2006 - 2010;

 

- Có thêm 165.000 lao động được đào tạo kỹ thuật làm việc tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

 

4.1.3.Phương pháp tiếp cận xây dựng  giải pháp vĩ mô

Giải pháp được hiểu là một hoặc một nhóm  các tác nghiệp mà cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành áp dụng cho đối tượng quản lý và hệ thống thực thi: (1) Chủ trì xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật được  phép ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành; (2) Tổ chức triển khai đôn đốc thực hiện các văn bản đó bằng mệnh lệnh và các nguồn lực vật chất để thực hiện; (3) Đánh giá được kết quả của các nỗ lực pháp lý và hỗ trợ nguồn lực để sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh các  tác động đến DNNVV một cách tích cực hơn.

Đối tượng giải pháp là phát triển DNNVV mà Việt Nam mới quan tâm đến từ sau Nghị định 90, năm 2001, do vậy cần tích hợp thực tiễn Việt Nam  kinh nghiệm quốc tế và điều chỉnh kịp thời có lợi cho DNNVV. Mặt khác, lịch sử cải cách và đổi mới kinh tế của Việt Nam bắt nguồn từ thực tiễn sinh động cho nên những giải pháp phải mềm mại theo hướng mở, định hướng cho DNNVV một hành lang rộng, phân cấp mạnh hơn cho chính quyền địa phương, áp dụng cơ chế giám sát uốn nắn hơn thanh tra và trừng phạt bằng các mệnh lệnh hành chính.

Thời lượng, định lượng và đối tượng thực thi các giải pháp cần được cụ thể hoá, văn bản hoá để mỗi DNNVV áp dụng vào hoạt động kinh doanh. Nếu thiếu lượng hoá sẽ chỉ là những ước lệ và đẩy “cơ chế xin cho” vào cơ quan công quyền, biến DNNVV vào cuộc cạnh tranh ảnh hưởng từ cá nhân quan chức hơn là cạnh tranh thị trường, những bài học về các vụ án đã lên tiếng mối quan hệ cá nhân, nhóm cá nhân trong bộ máy nhà nước can thiệp, bao che, bảo vệ “doanh nghiệp sân sau”.

4.2 Giải pháp của Chính phủ

Chính phủ cần tổ chức hệ thống thông tin để nắm bắt kịp thời các xu hướng hội nhập quốc tế và thực trạng DNNVV Việt Nam  để rà soát lại các chính sách nhắm phát triển DNNVV đạt mục tiêu của Chính phủ về tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và thu nhập, xóa đói nghèo và phát triển bền vững. Chính sách của Chính phủ phải có tính khả thi, áp dụng riêng cho DNNVV đạt được định lượng áp dụng đối với DNNVV : (1) đúng đối tượng, (2) đúng thời hạn,(3) đủ liều lượng. Nếu không đạt như vậy DNNVV sẽ coi chính sách chỉ là những tuyên bố không “xúc động”. Môi trường kinh doanh mà DNNVV cần từ Chính phủ: Luật pháp thông thoáng, hạ tầng kỹ thuật và tâm lý xã hội đồng thuận, DNNVV góp vào môi trường đó bằng nỗ lực của chính mình.

4.2.1. Tạo điều kiện vào ra thị trường và hoàn thiện địa vị pháp lý của doanh nghiệp

Liên quan đến giải pháp này là sự minh bạch hoá các thủ tục đăng ký kinh doanh lần đầu để công dân thành lập doanh nghiệp và những thay đổi, bổ sung đăng ký kinh doanh. Luật Doanh nghiệp năm 2005 và các  văn bản hướng dẫn cần được tuyên truyền, giải thích đến các tầng lớp nhân dân, chú ý lực lượng lao động trẻ đang lao động, học tập, các  hộ gia đình đang kinh doanh quy mô nhỏ.

Ngoài việc niêm yết công khai ở cơ quan đăng ký kinh doanh cần tổ chức huấn luyện đội ngũ tư vấn phát triển doanh nghiệp chuyên trách hoặc cộng tác viên, các chỉ dẫn khai thác tài liệu trên mạng Internet và sao chụp tài liệu, giải đáp thắc mắc qua các kênh thông tin trực tuyến như điện thoại, internet, phát thanh, truyền hình, xuất bản, hội thảo chuyên đề,…

Để thực hiện tốt giải pháp này, cần triển khai một số việc liên quan đến nâng cao năng lực của cơ quan chuyên môn trong hệ thống đăng ký kinh doanh:

- Tổ chức hệ thống cơ quan đăng ký kinh doanh toàn quốc từ trung ương (Bộ) đến huyện (Phòng), thống nhất về nghiệp vụ, kinh phí hoạt động, tổ chức biên chế, nhân sự và phương tiện, tăng cường tin học hoá quan nối mạng.

- Áp dụng thống nhất một mã số doanh nghiệp với các  tiêu chí cơ bản để thuận lợi cho việc áp dụng tin học hoá và công khai hoá địa vị pháp lý trên mạng internet để mọi người có thể tìm hiểu, liên kết với các doanh nghiệp đang hoạt động, tránh trùng tên, mặt khác hỗ trợ các cơ quan thống kê, thuế, đăng ký kinh doanh nắm bắt và cập nhật hoạt động của doanh nghiệp.

- Áp dụng tin học vào đăng ký kinh doanh để giảm thiểu thời gian và chi phí tham gia thị trường của doanh nghiệp. Thời gian và chi phi tham gia thị trường của doanh nghiệp Việt Nam vẫn ở mức cao làm tụt điểm chỉ số cạnh tranh quốc gia và địa phương cấp tỉnh.

- Rà soát, nội dung các hồ sơ, trình tự, thủ tục, các khâu đăng ký kinh doanh, khắc dấu, đăng ký mã số thuế để sửa đổi, rỡ bỏ các  rào cản. Báo cáo toàn cầu về Môi trường kinh doanh năm 2006, ở Việt Nam gia nhập thị trường cần 50 ngày, trải qua 11 thủ tục với chi phí bằng 50% thu nhập bình quân đầu người, trong đó:cấp giấy chứng nhận đắng ký kinh doanh  hết 15 ngày, khắc dấu 14 ngày, đăng ký mã số thuế và mua hóa đơn 15 ngày. 

- Rà soát các “giấy phép con”, dạng giấy   ”chứng nhận, cho phép, đồng ý, thông qua” ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Trong năm 2007,  Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư phối hợp với các cơ quan có liên quan đến trên 300 giấy phép ngành nghề kinh doanh có điều kiện để loại bỏ hoặc đơn giản thủ tục theo hướng hậu kiểm.

- Các thủ tục rút khỏi thị cũng đơn giản hơn, cải cách Luật phá sản theo hướng hiệp thương các chủ nợ, mua bán nợ để chia sẻ với doanh nghiệp thất bại, khép lại những tồn đọng, xây dựng phong cách kinh doanh mới theo hướng văn hoá, hiện đại.

Các giải pháp này theo hướng một cửa, doanh nghiệp được hướng dẫn kịp thời, các chế tài hành chính cũng theo đó để giám sát hoạt động của công chức thi hành công vụ, ví dụ như kiểm tra hồ sơ tồn đọng, kết quả giải quyết,…

4.2.2. Tạo điều kiện tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất

Đây là giải pháp quan trọng nhất để tạo vốn bất động sản cho doanh nghiệp kinh doanh, liên doanh, thế chấp và tạo cơ hội đầu tư dài hạn. Chính sách đất đai góp phần giải toả nghịch lý giá đất Việt Nam cao không tương xứng với điều kiện kinh doanh và thu nhập của doanh nghiệp. Giải pháp này đặt vào cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, cần có những đổi mới như sau:

- Hoàn thiện pháp lý và nâng cao năng lực quản lý của hệ thống cơ quan đăng ký đất đai trong cả nước nhằm đẩy nhanh tiến độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và khuyến khích đăng ký các giao dịch về đất.

- Lập quy hoạch, kế hoạch chi tiết sử dụng đất và công khai các quy hoạch này làm cơ sở cho việc giao đất, cho thuê đất, đấu thầu quyền sử dụng đất.

- Xây dựng các cụm khu công nghiệp, thương mại có hạ tầng tốt nhất, đồng thời điều chỉnh các hình thức cho thuê đất. Hỗ trợ các DNNVV có cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm di dời ra khỏi đô thị, khu dân cư thông qua việc cho phép chuyển quyền sử dụng đất từ đất sản xuất sang đất ở và đất thương mại nhằm mục đích bán và trang trải chi phí di chuyển.

- Thống kê và thu hồi đất đang hoang hoá, sử dụng không đúng mục đích để tạo quỹ đất cho các doanh nghiệp thuê.

- Có những quy định về bồi hoàn và trả lại quyền sử dụng để quá trình chuyển giao đất công khai thuận lợi hơn. Ví dụ như các doanh nghiệp mua lại quyền sử dụng thoả thuận thanh toán nếu không sẽ chuyển sang đấu thầu nhằm chống đầu cơ, mua bán chuyển nhượng dự án trái phép.

4.2.3. Tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNVV tiếp cận các nguồn vốn.

Thứ nhất, Nguồn vốn của nhà nước hỗ trợ cho doanh nghiệp không thể vi phạm cam kết WTO, tức là không hỗ trợ trực tiếp mà hỗ trợ gián tiếp. Cần công khai hình thức hỗ trợ gián tiếp. Với những nguồn lực có trong tay, thông qua các công ty đầu tư tài chính của nhà nước để mua cổ phần của DNNVV, hoặc mua trái phiếu của DNNVV được  phát hành trái phiếu theo dự án.

Nghiên cứu việc nhà nước góp vốn thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển DNNVV, sửa đổi Quyết định 193 chuyển Quỹ bảo lãnh tín dụng thành Quỹ hỗ trợ phát triển DNNVV: Tăng vốn cấp của ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, từ mức tối đa không quá 30% vốn điều lệ lên 50% và có cơ chế tăng giảm nguồn vốn này.

Các Quỹ có điều lệ riêng, cần ban hành mẫu hướng dẫn xây dựng điều lệ để các tỉnh thành phố nhanh chóng triển khai.

Thứ hai, Nguồn vốn của các ngân hàng thương mại là nguồn vốn quan trọng của DNNVV, Ngân hàng Nhà nước cần chỉ đạo các ngân hàng thương mại xây dựng kế hoạch định hướng cho vay các DNNVV với số dư nợ tín dụng đạt đến trên 60% tổng dư nợ. Ngân hàng thương mại cần tăng cường tiếp thị với tư cách ngân hàng bán lẻ để đáp ứng nhu cầu của DNNVV, có các  biện pháp thẩm định món vay, giám sát và đôn đốc thu nợ thay cho việc đòi hỏi các thế chấp cầm cố vượt quá khả năng của DNNVV, phối hợp với quỹ bảo lãnh tín dụng, các quỹ khác và doanh nghiệp có hợp đồng kinh tế để cho vay.

Thứ ba, Phát huy vai trò của Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV

Điều lệ Quỹ cần thể hiện rõ cơ chế góp vốn của các thành viên là DNNVV theo hướng linh hoạt đối với nguồn vốn góp vượt mức tối thiểu. Các thành viên thông qua quỹ để huy động vốn đầu tư các dự án, chuyển hoá vốn của quỹ thành nguồn vốn của DNNVV trên cơ sở thoả thuận việc tăng giám vốn của các thành viên góp vốn như vậy vẫn bảo đảm an toàn của quỹ và thuận lợi cho DNNVV góp vốn công khai vào dự án.

Thứ tư, DNNVV phát huy nội lực

Đây là hướng cơ bản, lâu dài, thường xuyên đối với chủ doanh nghiệp, ngoài nguồn vốn trên, DNNVV còn nhiều biện pháp huy động vốn trong khuôn khổ pháp luật dân sự và kinh tế. Để tiếp cận các nguồn vốn của các quỹ và ngân hàng, DNNVV phải có vốn đối ứng từ tích luỹ vốn bằng tài sản hữu hình và vô hình, bằng uy tín và các mối quan hệ tích cực để bảo đảm vốn kinh doanh.

Cơ quan quản lý nhà nước không can thiệp vào quyền huy động vốn hợp pháp của DNNVV nhưng có thể phổ biến các kinh nghiệm và thúc đẩy hoạt động kiểm toán độc lập, nộp báo cáo tài chính, báo cáo thuế để tư vấn, khuyến cáo. Các tranh chấp kinh tế nên để các bên hiệp thương, trọng tài xét xử, kiềm chế việc hình sự hoá các tranh chấp.

4.2.4 .Phát triển nguồn nhân lực

Thứ nhất, cần có nghiên cứu đầy đủ về lực lượng lao động trong độ tuổi hiện nay bao gồm số lao động đang làm việc, lao động chưa có việc làm, lao động đang được đào tạo đồng thời dự báo số lao động tăng, giảm chuyển dịch hàng năm với cơ cấu theo địa phương, ngành cùng các tiêu chí về chất lượng nguồn nhân lực như văn hoá, học vấn, tâm lý ưa thích việc làm. Từ những số liệu đó kết hợp với các xu hướng phát triển ngành nghề của thế giới kể cả nhu cầu nhập khẩu lao động của một số quốc gia thành viên WTO để dự báo phát triển nguồn nhân lực theo ngành.

Rà soát lại nội dung, điều kiện dạy và học, nghiên cứu đổi mới nội dung, chương trình và phương thức đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề, theo hướng gắn với yêu cầu của hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, cung cấp cho người học các kiến thức chuyên môn, kỹ năng hành nghề và ý thức trách nhiệm; đưa nhanh công nghệ thông tin vào nội dung đào tạo và quản lý quá trình đào tạo; khuyến khích liên kết giữa các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề với các doanh nghiệp để nâng cao khả năng thực hành, cơ hội việc làm của  học viên sau khi tốt nghiệp.

Thứ hai, xây dựng vườn ươm DNNVV ở các cơ sở đào tạo

Có thể bổ sung thêm các môn học về lập nghiệp và khởi sự doanh nghiệp, một số cơ sở đào tạo tiên tiến cần xây dựng các vườn ươm DNNVV  để học sinh, sinh viên có thể thành lập doanh nghiệp nay tại vườn ươm đó để đi vào thị trường. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ mô hình này theo hướng xã hội hoá, có sự kết hợp giữa sức lực, vốn của học sinh, sinh viên với vốn của các doanh nghiệp muốn phát triển thành viên, chi nhánh, vốn tín dụng và vốn tài trợ quốc tế.

Để chuyển hoạt động khởi sự DNNVV từ các diễn đàn ra cuộc sống cần có cơ sở ban đầu để học sinh sinh viên hoạt động thực sự, sau đó chuyển tiếp vào thị trường. Có thể xây dựng các Trung tâm hỗ trợ DNNVV ở một số vùng với cơ sở vật chất cần thiết để DNNVV ở vườn ươm hoạt động và chuyển giao tài sản khi DNNVV có địa điểm mới trên thị trường, giới thiệu DNNVV  thuê đất khu công nghiệp, làm thành viên doanh nghiệp khác,…

Thứ ba, xã hội hoá dạy nghề, rà soát, bổ sung quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề và phân cấp việc cấp giấy phép thành lập các trung tâm đào tạo nghề. Khuyến khích các DNNVV thành lập cơ sở dạy nghề theo hướng liên kết để lao động được học những nghề cơ bản, có khả năng tự học và chuyển đổi nghề.

Thứ tư, Lồng ghép nhiệm vụ của các chương trình kinh tế xã hội với việc đào tạo nghề, ví dụ như chương trình khuyến nông, khuyến ngư, khuyến công, chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình hỗ trợ xã khó khăn. Mỗi chương trình dự án cụ thể ở địa phương đặt ra nhiệm vụ đào tạo, chuyển giao công nghệ với việc thành lập mới DNNVV hoặc bổ sung nguồn nhân lực cho DNNVV. Tranh thủ tối đa hợp tác, kêu gọi tài trợ quốc tế cho đào tạo.

Thứ năm, Điều tra, đánh giá hiệu quả các hình thức dạy nghề ở các cơ sở hiện có, phân tích ưu điểm, hạn chế, đề xuất nội dung dạy nghề phù hợp với yêu cầu về lao động có nghề của nền kinh tế.

4.2.5. Tạo lập môi trường tâm lý xã hội đối với khu vực DNNVV

(1) Tuyên truyền vị trí, vai trò và gương doanh nhân có thành tích để nâng cao nhận thức của chính quyền các cấp, cộng đồng dân cư. Thay đổi cách nhìn đối với DNNVV, bỏ mặc cảm về “tư nhân và bóc lột” gắn kết các DNNVV với nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của địa phương trong đó nhấn mạnh đến giải quyết việc làm, phát huy tiềm năng thế mạnh của địa phương, xây dựng tinh thần kinh doanh của cộng đồng.

(2) Soạn thảo chuyên đề DNNVV đưa vào chương trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và trường dạy nghề. Tổ chức các buổi sinh hoạt trong cộng đồng về DNNVV, tăng cường giao lưu giữa doanh nhân và sinh viên, học sinh và công dân qua hình thức đối thoại, hội thảo,…

(3) Xây dựng chương trình văn hoá kinh doanh. Cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành thực hiện việc kiểm tra, uốn nắn các sai sót của DNNVV trong các hoạt động nội bộ doanh nghiệp và trao đổi trên thị trường. Các giải thưởng giành cho doanh nghiệp, doanh nhân cần có tiêu chí về văn hoá ứng xử.

4.2.6.Xã hội hoá việc xây dựng cơ chế quản lý DNNVV

Nhân dân lao động trực tiếp hoặc thông qua tổ chức của mình tham gia quản lý nhà nước. Do vậy kế hoạch, chính sách phát triển DNNVV cần công khai hoá theo quy trình xây dựng cơ chế chính  sách có sự tham gia của người dân. Vấn đề này đã được cam kết với WTO về sự minh  bạch hoá chính sách.

(1) Nhà nước thông qua kiến nghị của DNNVV đạt đến một số lượng nhất định thì phải xem xét lại chính sách hiện hành;

(2) Cơ quan soạn thảo chính sách có thể xây dựng đề cương, cung cấp tư liệu lấy ý kiến trong cộng đồng DNNVV, dự thảo các văn bản pháp quy lấy ý kiến DNNVV trong 60 ngày trước khi ban hành.

(3) Các văn bản hành chính cần được công khai tại trụ sở cơ quan hoặc đưa lên báo chí nhằm hạn chế những công văn cá biệt, riêng lẻ có lợi ích cục bộ, đồng thời đòi hỏi hệ thống hành chính có trách nhiệm khi thực thi công vụ, chống việc che dấu thông tin, sử dụng các công văn cá biệt .

Từ năm 2003, Chỉ thị  số 27/2003/CT-TTg  ngày 11/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ Về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Luật doanh nghiệp, khuyến khích phát triển DNNVV, yêu cầu các Bộ, ngành, chính quyền địa phương thực hiện nguyên tắc: “Trong quá trình soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến môi trường kinh doanh, đến quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp, phải lấy ý kiến tham gia của cộng đồng doanh nghiệp. Khi ban hành, phải tổ chức phổ biến rộng rãi và hướng dẫn thi hành đến các cấp cơ sở, các hiệp hội và doanh nghiệp”  Nguyên tắc này cần được kiểm tra, giám sát. Do thiếu chia se thông tin, thiếu giám sát nên có nhiều chính sách của địa phương trái với luật pháp mà một hai năm sau bộ, ngành mới đề nghị rà soát và kiến nghị huỷ bỏ!

4.2.7. Nâng cao vai trò của Hội đồng khuyến khích  phát triển  DNNVV

Hội đồng khuyến khích phát triển DNNVV thành lập theo Quyết định số 12/2003/QĐ-TTg ngày 17/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ, hoạt động theo Quyết định Số 185/QĐ/BKH ngày 24/03/2003 của Chủ tịch Hội đồng Khuyến khích phát triển  DNNVV ( Chủ tịch là Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

Hội đồng với những thành viên mở cần liên kết với cơ quan thường trực là Cục DNNVV, Hiệp hội DNNVV, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam, Liên minh HTX Việt Nam, Ban điều phối cấp tỉnh để tổng hợp được trí tuệ tập thể, kinh nghiệm thực tiễn, đưa ra được những giải pháp tích cực, đồng thuận và cộng hưởng tác động.

Trong một thời gian nhất định, sau 1-2 năm cần đánh giá vai trò của Hội đồng để rút kinh nghiệm và tái cấu trúc lại bộ máy hỗ trợ theo hướng giảm các đầu mối, chuyển giao một số nhiệm vụ cho Hội DNNVV ở Trung ương và địa phương. Chúng ta có nhiều bài học kinh nghiệm về tổ chức Hội đồng, giai đoạn ban đầu cần thiết nhưng sau 5 năm những cơ cấu này cần thay đổi trả lại chức năng cho hệ thống công quyền và Hiệp hội.

4.2.8. Tối đa hoá ảnh hưởng tích cực của WTO

Thứ nhất, Tổ chức phổ biến các cam kết với WTO và những kinh nghiệm của các nước thành viên mới gia nhập WTO giới thiệu tài liệu và chỉ dẫn các địa chỉ để DNNVV tiếp cận thông tin về WTO, tổ chức nhiều lớp học, hội thảo miễn phí với những chủ đề riêng như ảnh hưởng của WTO đến từng nhóm hàng, mặt hàng, loại dịch vụ và các  phương án ứng xử của DNNVV. Giới thiệu các công thức tính toán chủ yếu là thuế ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, kinh doanh, ước tính giá thành sản xuất trong nước so sánh với các nước cạnh tranh, dự báo lượng hoá khối lượng xuất khẩu vào các thị trường mới.

Thứ hai, Các cơ quan nhà nước cần có nghiên cứu và thông tin về những ngành hàng Việt Nam có thế mạnh, có khả năng cạnh tranh ở các thị trường cụ thể, xác định nhóm hàng ưu tiên đầu tư sản xuất để có lộ trình hỗ trợ theo hướng:

- Đầu tư đổi mới công nghệ;

- Đầu tư phát triển nguồn nhân lực;

- Hỗ trợ đăng ký, quảng bá thương hiệu, giới thiệu sản phẩm;

- Thông tin về đặc tính, tập quán các thị trường;

- Giới thiệu tiêu chuẩn hàng hoá của nước nhập khẩu;

- Các quy tắc quốc tế về giao dịch, ký kết hợp đồng và giải quyết tranh chấp thương mại;

- Tổ chức các cuộc giao lưu giữa các DNNVV của Việt Nam với các  doanh nghiệp đối tác ở từng ngành hàng, từng quốc gia,…

Thứ ba, Xây dựng các mô hình liên kết ngành, lấy ý kiến DNNVV tham gia mô hình liên kết đó. Các mô hình liên kết tiến đến hình thành một số dự án đầu tư và các  hợp đồng giữa các DNNVV, không nên dừng lại ở những tuyên bố hội thảo và những cam kết  không có tính hiện thực,…

Thứ tư, Hình thành một số đơn vị sự nghiệp trực thuộc cơ quan nhà nước để đào tạo, nâng cao năng lực chuyên gia tư vấn nhằm cung cấp các  dịch vụ nhanh nhất cho DNNVV. Hiện nay chúng ta rất thiếu các chuyên gia hội nhập kinh tế quốc tế khiến DNNVV mất cơ hội kinh doanh hoặc phải trả chi phí quá cao.

4.2.9. Hoàn thiện các quy định về chế độ kế toán và thuế

Giải pháp tại Quyết định 236 yêu cầu Bộ Tài chính là cơ quan chủ trì thực hiện sẽ đáp ứng mong muốn của cộng đồng DNNVV, dự kiến thực hiện trong những năm đầu của kế hoạch 5 năm 2006-2010:

(1) Hoàn thiện các quy định về chế độ kế toán và báo cáo tài chính

- Mở rộng phạm vi, đối tượng áp dụng chế độ kế toán cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nghiên cứu xây dựng phương pháp kế toán đơn giản áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ, trình độ quản lý thấp; đơn giản hoá hệ thống tài khoản

- Sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1177/TC/QĐ/CĐKT ngày 23/12/1996 và Quyết định số 144/2001/QĐ-BTC theo hướng đơn giản hoá biểu mẫu báo cáo tài chính của doanh nghiệp. 

- Đơn giản hoá các quy định về lưu giữ hoá đơn chứng từ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng đối với chứng từ bắt buộc và chứng từ không bắt buộc.

(2) Hoàn thiện các quy định liên quan đến thuế

- Sửa đổi, bổ sung quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng mở rộng đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp; đơn giản hoá phương pháp và căn cứ tính thuế; giảm các trường hợp ưu đãi thuế để đơn giản hoá chính sách ưu đãi, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa dễ tiếp cận và hưởng các ưu đãi.

- Thu hẹp diện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo phương pháp khoán để khuyến khích các đối tượng nộp thuế khoán thực hiện đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp.

- Mở rộng phạm vi thực hiện cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế theo hướng ban hành quy định rõ quyền và trách nhiệm của cơ quan thuế, đối tượng nộp thuế và các tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình thu - nộp thuế.

- Nghiên cứu, bổ sung quy định về khấu hao tài sản cố định theo hướng cho phép áp dụng chế độ khấu hao luỹ tiến, nhằm khuyến khích các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ.

- Sửa đổi, bổ sung Nghị định, Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật Hải quan theo hướng đơn giản hóa thủ tục và quy trình thông quan hàng hóa, công khai hóa danh mục thuế xuất, nhập khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tự kê khai, áp mã, áp giá”

Chúng ta hiểu đây là cam kết của Chính phủ Việt Nam (giao Bộ Tài chính) đối với những vấn đề DNNVV quan tâm. Cần bảo đảm thời gian và phương thức sửa đổi, tiếp thu đầy đủ ý kiến của cộng đồng DNNVV trươc khi ban hành.

4.2.10. Xây dựng hệ thống cung cấp thông tin cho DNNVV

Bên cạnh các diễn đàn cần thiết lập hệ thống thông tin trong nước với hình thức cung cấp thông tin và trả lời câu hỏi của DNNVV, nâng chất lượng các báo về doanh nghiệp, các trang điện tử, bản tin của các trung tâm hỗ trợ DNNVV ở cấp tỉnh. Mở thêm các đường dây nóng, sử dụng các chuyên gia, công tác viên làm ngoài giờ để tư vấn và cung cấp thông tin cho DNNVV.

Có cơ chế liên kết để các cơ quan tham tán kinh tế thương mại cung cấp tin thị trường quốc tế và xúc tiến thương mại, đầu tư với 149 nước thành viên WTO và các quốc gia, vùng lãnh thổ. Cơ chế đó vừa là nhiệm vụ, vừa là đơn đặt hàng mà Chính phủ và DNNVV sẽ trang trải chi phí. Kinh nghiệm hoạt động của tham tán kinh tế các sứ quán ở Việt Nam cần được nghiên cứu để chuyển giao cho cán bộ sứ quán Việt Nam ở nước ngoài. (Ví dụ, sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam  tổ chức giao ban các doanh nghiệp, đại diện cộng đồng Hàn, các cộng tác viên tin cậy)

Hỗ trợ DNNVV xây dựng thương hiệu, cung cấp các thương hiệu hiện có để DNNVV không đưa ra thương hiệu trùng lặp, chú ý xây dựng sơm thương hiệu những sản phẩm có sức cạnh tranh. 

Tóm lại, những nhóm giải pháp trên có thể tiến hành đồng thời, những giải pháp đó có thể tiếp tục bổ sung trong quá trình thực hiện để phù hợp với diễn biến thực tiễn. Xã hội hoá xây dựng cơ chế quản lý để các chính sách của nhà nước hội tụ được nguyện vọng của cộng đồng DNNVV. Các giải pháp đó thực hiện theo lộ trình sau :

Bảng 4.2.Chương trình hành động cụ thể để đạt mục tiêu hoàn thiện chính sách phát triển DNVVN giai đoạn 2007-2010

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2007

2008

2009

2010

Cơ quan thực hiện/phối hợp

 Chính sách vĩ mô của Chính phủ  tạo điều kiện thuận lợi cho DNNVV

1.Thủ tục đăng ký kinh doanh, tham gia và rút khỏi thị trường

x

x

 

 

 

Theo chức năng, các Bộ trình Chính phủ ban hành Nghị định, Bộ ban hành Thông tư.

 

Trong quá trình xây dựng thể chế các Bộ chủ trì, phối hợp, lấy ý kiến UBND, ý kiến của Hiệp hội, cộng đồng DNNVV, công bố dự thảo trên phương tiện thông tin lấy ý kiến nhân dân.

2. Tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất

x

x

 

 

3. Tiếp cận các nguồn vốn

x

x

 

 

4. Phát triển nguồn nhân lực

x

x

x

x

5.Môi trường tâm lý xã hội

x

x

x

 

6. Xã hội hoá việc xây dựng cơ chế quản lý- đối thoại Chính phủ và DNNVV

x

x

 

 

7. Nâng cao vai trò của Hội đồng khuyến khích  phát triển  DNNVV của Chính phủ , Hiệp hội của DNNVV.

x

x

x

x

8. Tối đa hoá ảnh hưởng tích cực của WTO

x

x

x

x

9. Hoàn thiện các quy định về chế độ kế toán và thuế

x

x

 

 

10. Xây dựng hệ thống cung cấp thông tin cho DNNVV

x

x

x

 

Hoàn thiện biện pháp quản lý vi mô ở  DNNVV

1.Xây dựng kế hoạch, chiến lược sản xuất kinh doanh (không quá 2 năm đối với mỗi DNNVV)

x

x

 

 

DNNVV chủ động xây dựng, thuê các đơn vị tư vấn, lấy ý kiến của Hiệp hội SME, tham khảo ý kiến các cơ quan quản lý nhà nước để được cung cấp thông tin và hướng dẫn, học tập trong nước và khảo sát kinh nghiệm quốc tế.

2.Nghiên cứu áp dụng công nghệ mới, giảm chi phí sản xuất,

x

x

x

x

3.Kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực

x

x

x

x

4.Xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường.

x

x

x

x

5.Xây dựng văn hoá kinh doanh

x

x

x

x

6.Xây dựng Hiệp hội SME

x

x

x

x

7.Kiến nghị bổ sung chính sách phát triển DNNVV

x

x

x

x

4.3. Giải pháp của chính quyền địa phương cấp tỉnh

Chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh trong hai năm qua cho thấy vị trí, vai trò của chính quyền địa phương trước hết là cấp tỉnh rất quan trọng. Hiện tượng phát triển kinh tế của các tỉnh như Bình Dương, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh cần được  nghiên cứu, tổng kết, phổ biến kinh nghiệm.

Luật tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp và  Nghị quyết 08 của Chính phủ cùng các văn bản pháp lý đã phân cấp, giao quyền cho địa phương thực thi các nhiệm vụ phát triển  DNNVV. Căn cứ vào chính sách của nhà nước, kết hợp với thực tế  ở địa phương, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh triển khai các hoạt động phát triển DNNVV, xây dựng và phổ biến hệ thống chính sách của Trung ương và địa phương về phát triển DNNVV đến các  cấp và các  tổ chức chính trị xã hội.

Thứ nhất, Uỷ ban nhân dân tỉnh xây dựng kế hoạch 5 năm, hằng năm về phát triển DNNVV, để kế hoạch có tính khả thi cần có hướng dẫn để những người có ý định khởi sự DNNVV có thông tin tin cậy đăng ký nhu cầu bồi dưỡng khởi nghiệp, nhu cầu đào tạo, đất đai, tín dụng, dự án đầu tư, mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu. Những kế hoạch được lập từ cơ sở có tính hiện thực khi thực hiện.

Quy trình xây dựng kế hoạch:

(1) Căn cứ vào quy hoạch phát triển  kinh tế-xã hội của địa phương, chính sách phát triển DNNVV của Trung ương, Uỷ ban nhân dân tỉnh tổ chức xây dựng dự thảo kế hoạch phát triển DNNVV, các cơ quan chuyên môn xác định khả năng, nguồn lực và cơ chế chính sách thực hiện hỗ trợ DNNVV. Bản dự thảo này có thể đưa ra Hội đồng nhân dân kỳ họp gần nhất để lấy ý kiến;

(2) Triển khai xây dựng kế hoạch đến cấp xã, công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, lấy ý kiến rộng rãi và ý kiến của cộng đồng DNNVV. Dự thảo kế hoạch kèm theo các  phụ lục như giấy đăng ký nhu cầu hỗ trợ, danh mục tài liệu để tham khảo, các câu hỏi và trả lời, các  kiến nghị về chính sách,…Việc tổng hợp kế hoạch rất khẩn trương do vậy có thể đấu thầu giao cho một đơn vị tư vấn ví dụ như Hiệp hội DNNVV chủ trì phối hợp với các  sở, ban ngành và chính quyền địa phương.

(3) Tổng hợp báo cáo kế hoạch, hội nghị mở rộng để hoàn chính kế hoạch trình Hội đồng nhân dân phiên họp gần nhất để thông qua Nghị quyết riêng hoặc là một mục trong nghị quyết về phát triển kinh tế-xã hội địa phương.

(4) Báo cáo kế hoạch gửi Bộ Kế hoạch Đầu tư và Hội đồng Khuyến khích phát triển DNNVV để tổng hợp kế hoạch quốc gia và thông báo kế hoạch được chuẩn y kịp thời công khai trong toàn quốc, trong đó nêu rõ những hỗ trợ của Trung ương và các  giải pháp thuộc thầm quyền địa phương để địa phương chủ động thực hiện.

(5) Những cam kết của các bên tham gia kế hoạch được phê duyệt từ trung ương đến địa phương, đến mỗi người dân và DNNVV cần được tổ chức thực hiện.

Thứ hai, xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn của địa phương và Uỷ ban nhân dân các cấp về việc giải quyết những vấn đề của DNNVV theo lộ trình kế hoạch. Từ cơ chế phối hợp đó thực hiện quy trình thủ tục hành chính “một cửa” tạo điều kiện thuận lợi cho DNNVV tiếp xúc thân thiện với cơ quan công quyền.

Định kỳ tổ chức đối thoại giữa DNNVV với lãnh đạo địa phương và các cơ quan chuyên môn. Một số vấn đề “nóng” có nhiều kiến nghị, cơ quan chuyên môn phối hợp đối thoại công khai,dân chủ, xây dựng.

Cơ chế một cửa có thể được hiểu: Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cho cơ quan đầu mối giải quyết những vấn đề liên quan đến DNNVV ví dụ như đăng ký kinh doanh từ khi nộp giấy tờ đến khi nhận được Giấy phép đăng ký kinh doanh, con dấu, mã số thuế, hoá đơn kinh . Muốn vậy phải có cơ chế phối hợp giữa Sở với các sở Ban ngành và phân chia lệ phí cho các bên tham gia. Tương tự như vấn đề đất đai cũng chỉ một đầu mối -một cửa là Sở Tài nguyên môi trường; vấn đề bảo lãnh tín dụng cũng cần có quy chế cụ thể rõ ràng, đặc biệt là quy trình thẩm định dự án đầu tư, và các  hợp đồng sản xuất kinh doanh để thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh.

Thứ ba, mỗi tỉnh có một Trung tâm hỗ trợ DNNVV với cơ cấu tổ chức, nhân sự, cơ sở vật chất làm địa chỉ tin cậy tư vấn, đào tạo, vận động các cơ quan công quyền và tuyên truyền ra công chúng hỗ trợ hoạt động của DNNVV. Bổ sung thêm chức năng nhiệm vụ các Trung tâm hỗ trợ DNNVV đồng thời nâng cao năng lực cho cán bộ, nhân viên có khả năng thực hiện các  hoạt động từ khởi sự DNNVV, trang bị kiến thức kinh doanh, tuyển dụng và đào tạo nhân lực, lập dự án đầu tư, hỗ trợ tiếp thị, vận động tài trợ, tổ chức mối liên kết các DNNVV và hợp tác quốc tế. Các Trung tâm áp dụng cơ chế cộng tác viên là chuyên gia trong các lĩnh vực, có đãi ngộ thoả đáng.

Hộp 4 .Tư vấn quản lý doanh nghiệp chưa hiệu nghiệm

Ông Đào Mạnh Chất, Giám đốc Công ty 3C : "Vấn đề chính là các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các DNNVV  không có thói quen sử dụng dịch vụ tư vấn. Họ thường tự làm mọi thứ mà lẽ ra đi thuê tư vấn thì sẽ tốt hơn. Mặt khác, phần lớn các công ty tư vấn  cố làm vui lòng khách hàng trong khi lẽ ra là phải tư vấn điều tốt nhất cho khách hàng".

Đại diện của Công ty Sơn Hà: Nhiều công ty chào dịch vụ nhưng thậm chí không thể nói rõ họ có thể tư vấn giúp cho chúng tôi cái gì và kinh nghiệm cụ thể của họ ra sao.

Ông Phạm Ngọc Thanh, Giám đốc Công ty Sytec: Cả nhà tư vấn và doanh nghiệp cùng thiếu chuyên nghiệp nên mới dẫn tới việc không gặp nhau".

Ông Phạm Quốc Hưng, Giám đốc Công ty Kiểm toán và tư vấn quản lý ICA : Hầu hết khách hàng đều từ chối đánh giá doanh nghiệp tức là không muốn “khám bệnh” mà chỉ yêu cầu một việc cụ thể nào đó như là giải pháp cho quản lý hàng tồn kho chẳng hạn. Họ chỉ cần "uống thuốc" mà không cần biết đó có phải là thuốc đúng bệnh không. Như vậy thì làm sao mà tư vấn tốt được?.

Nguồn: www.vnexpress.net/Vietnam/Kinh-doanh/2004/10/3B9D7BF5/

 

Thứ tư, tổ chức trao đổi kinh nghiệm hoạt động hỗ trợ DNNVV giữa các huyện, giữa các tỉnh. Để chất lượng các  buổi toạ đàm cần chuẩn bị kỹ tài liệu, cởi mở và thân thiện.

Thứ năm, theo hướng dẫn của Trung ương, các  địa phương sớm thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng  DNNVV. Các địa phương căn cứ vào thực tiễn phát triển  DNNVV và hoạt động của Hiệp hội DNNVV có thể thực hiện một số hình thức hoạt động hỗ trợ DNNVV sáng tạo, hợp pháp, đồng thuận, hiệu quả là thẩm quyền của địa phương, không quá cứng nhắc theo các cấu trúc của Trung ương.

Thứ sáu, nghiên cứu thành lập Ngân hàng thương mại  cổ phần DNNVV ở địa phương  từ việc chuyển đổi các quỹ  bảo lãnh tín dụng, quỹ hỗ trợ phát triển DNNVV. Ngân hàng thương mại cổ phần DNNVV có quyền kinh doanh trên thị trường lấy lợi nhuận như các  ngân hàng thương mại khác đồng thời có chính sách hỗ trợ các thành viên DNNVV  là cổ đông của ngân hàng .  DNNVV là khách hàng ổn định và lâu dài.

Từ kết quả hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần DNNVV ở địa phương tiến tới thành lập ngân hàng thương mại cổ phần DNNVV Việt Nam.

Tóm lại, Nhà nước có chủ trương phân cấp quản lý kinh tế cho địa phương, kế hoạch, chính sách của Trung ương mang tính định hướng và thủ tục hành chính căn bản, phần còn lại, những định lượng và mối quan hệ trong việc thực hiện chính sách thuộc thẩm quyền của địa phương. Việc tổng hợp ý kiến, kinh nghiệm phát triển DNNVV rất cần thiết đối với bộ máy hành chính của địa phương. Cách sao chụp ỷ nại vào hướng dẫn của Trung ương cũng như duy ý chí sẽ đưa ra những chính sách không có tác động tích cực đến DNNVV.

Hơn lúc nào hết, sáng tạo năng động, đồng hành với DNNVV trong tư duy quản lý của chính quyền địa phương quyết định sự phát triển của DNNVV, góp phần phát triển kinh tế địa phương. Bên cạnh các dự án lớn, địa phương cần giành nhiều thời gian, công sức, chi phí hỗ trợ các DNNVV để giải quyết hàng loạt những vấn đề kinh tế xã hội và tạo cơ hội để DNNVV liên kết trở thành những doanh nghiệp lớn.

4.4. Ứng xử, vận dụng của DNNVV

4.4.1. Chủ động hội nhập, xây dựng thương hiệu

Chủ động xây dựng kế hoạch, chiến lược sản xuất kinh doanh, nghiên cứu áp dụng công nghệ, đổi mới trang thiết bị, tăng năng suất lao động và nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Chấp hành đúng pháp luật, đề cao văn hoá trong kinh doanh. Có kế hoạch đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý doanh nghiệp, nâng cao nhận thức về xu thế hội nhập và cạnh tranh quốc tế; chủ động liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp trong và ngoài nước để mở rộng sản xuất, kinh doanh, năng lực cạnh tranh.

Tác động của WTO đến với quá trình sản xuất kinh doanh từ đầu vào, đến các  chuyển hoá và đầu ra của DNNVV.

Đầu vào, xét về ba yếu tố: Nguyên nhiên liệu, vốn đầu tư, lao động sẽ có những thay đổi về chất lượng và chi phí, trong đó lao động sẽ có sự dịch chuyển đòi hỏi DNNVV phải có chiến lược về nhân sự theo hướng phát triển và đãi ngộ.

Quá trình biến đổi, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với công nghệ, sẽ phải đổi mới dứt khoát chứ không phải là sửa đổi nâng cấp công nghệ  trong cuộc canh tranh này, mặt khác DNNVV phải tổ chức lại quy trình sản xuất, các công đoạn dịch vụ để giảm chi phí đầu vào, rút ngắn chu kỳ sản xuất.

Về đầu ra, sự đối mặt với thị trường sẽ quyết liệt hơn, sản phẩm dịch vụ giống nhau nhưng doanh nghiệp này bán được có lãi, doanh nghiệp kia lỗ, doanh nghiệp khác không bán được. Thị trường thế giới không hẹp với một doanh nghiệp nhưng nhiều thị trường rất khắt khe về tiêu chuẩn sản phẩm.

Trong chiến lược hội nhập, cùng với việc mở thị trường DNNVV cần chủ động xây dựng thương hiệu đặt chỗ đứng trên các thị trường. Có thể nhóm DNNVV cùng xây dựng một nhóm các thương hiệu để tạo ra sức mạnh thị trường, DNNVV có thương hiệu mạnh có thể chia sẻ với những DNNVV chưa có thương hiệu thông qua các hợp đồng phụ công nghiệp, đơn đặt hàng,...

4.4.2. Phát huy nội lực

Các hỗ trợ của Nhà nước chỉ là những hành lang pháp lý, nguồn vốn gián tiếp,… mang tính hướng dẫn nhiều hơn là “bà đỡ”.  DNNVV cần tranh thủ tối đa hơn là trông đợi. Thực tế chứng minh DNNVV phát triển ổn định bền vững và lớn mạnh là do tự phát huy nội lực và tranh thủ các cơ hội kinh doanh, liên kết với cộng đồng doanh nghiệp, bám sát và phát triển  thị trường.

Hộp 5. Liên kết đổi mới công nghệ

Ông Nông Văn Sơn, Giám đốc công ty giấy Nam Sơn:

Đương nhiên các nhà doanh nghiệp muốn phát triển sản xuất, ngoài hậu thuẫn của luật pháp còn phải dựa vào khoa học, kĩ thuật, hoặc tự mình đã là nhà khoa học hoặc phải dựa vào nhà khoa học để mua được những công nghệ và thiết bị hiện đại.

Đến hôm nay hơn 80% công trình nghiên cứu khoa học đã bị “ngủ quên trong ngăn tủ”.Bởi rất nhiều trong số chúng không phải là những sản phẩm khoa học đích thực, sản phẩm đích thực sẽ tự biết mở đường mà đi, bởi nó làm ra cơm áo gạo tiền, nó là vật chất và của cải thực sự.

Nhìn vào tổng thể DNNVV trong hơn một thập kỷ qua đã bứt phá, dám nghĩ, dám làm. DNNVV  sẵn sàng đón nhận những tiến bộ để nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm trước những thách thức mới của thị trường trong nước và khu vực. Nguồn:www.haiphong.gov.vn/.../vn/index.asp?menuid=593&parent_menuid=578&fuseaction=3&articleid=4832 - 69k

Các tổ chức hiệp hội mà DNNVV tham gia cần liên kết hệ thống cộng đồng DNNVV với nền kinh tế để đạt được vị trí đối thoại với Chính phủ và thị trường trong và ngoài nước. Các đối thoại với Chính phủ là việc đưa ra những kiến nghị, sáng kiến chung, cách giải quyết các  trường hợp vướng mắc phổ biến. Tiến tới các Hiệp hội được Nhà nước giao làm các  dịch vụ công nếu có thể đảm nhận tốt.

4.4.3 .Chấp hành pháp luật và cam kết

Cùng với các hoạt động phát triển, trong mọi trường hợp DNNVV cần tránh vi phạm pháp luật, vi phạm các  cam kết để hình ảnh, thương hiệu của mình có uy tín trong cạnh trạnh và hội nhập kinh tế quốc tế.

Những thiệt hại do vi phạm pháp luật, thất tín với khách hàng lớn và người tiêu dùng không những tổn thất về kinh tế (do xử phạt) mà đây là cái cớ để các doanh nghiệp cạnh tranh loại ra khỏi thị trường.

Tuy nhiên việc chấp hành pháp luật và các  cam kết không cản trở tính năng động sáng tạo của DNNVV. Trong luật pháp và thị trường sẽ có những khoảng trống mà không ai nghĩ tới đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm đến bằng sự tính toán và đôi chút mạo hiểm. Ví dụ những mặt hàng không cấm, DNNVV sẽ được  kinh doanh, những thị trường khó tính DNNVV kiên nhẫn tiếp cận, những sản phẩm thị trường chưa có doanh nghiệp có thể đưa ra, những dịch vụ chưa ai làm doanh nghiệp nên làm cũng như các  biên pháp quản lý nội bộ cũng thuộc quyền của DNNVV quy định đối với người lao động.

4.4.4 .Xây dựng văn hoá kinh doanh

Giá trị văn hoá truyền thống đã được các  doanh nghiệp ở Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan phát huy cao độ. Khi các doanh nghiệp có hướng vào giá trị văn hoá thì các  giá trị khác cộng hưởng theo. Giá trị văn hoá có thể đúc kết vào sáu chữ “hợp tác, cạnh tranh, phát triển” Biểu hiện của văn hoá đa dạng, phong phú nên mỗi DNNVV vừa có nét chung vừa có nét riêng biệt để tạo hình ảnh và uy tín trên thị trường.

Hiện nay chưa có thiết chế văn hoá doanh nghiệp nhưng mỗi DNNVV có thể xây dựng nét văn hoá của riêng với những nội dung sau:

(1) Xây dựng nội quy nơi làm việc, cụ thể ở mỗi bộ phận, mỗi vị trí công tác phải có bản mô tả chức năng nhiệm vụ và mối quan hệ công việc.

(2) Xây dựng quy trình sản xuất theo các chứng chỉ về chất lượng để bảo đảm sản phẩm, dịch vụ đưa ra thị trường có chất lượng ổn định.

(3) Sử dụng triết lý hình thức khẩu hiệu ghi tạc vào mỗi người lao động tinh thần doanh nghiệp.

(4) Thể nghiệm phong cách kinh doanh theo tinh thần mới, sáng tạo không bắt chước nhưng phù hợp với văn hoá Việt Nam. Một số doanh nghiệp áp dụng triết lý của Nhật Bản, hay Hàn quốc ở những khía cạnh dị biệt xem ra không tác dụng, ví dụ như dùng hình nộm, ảnh người lãnh đạo doanh nghiệp ở phòng kín để nhân viên vào xả “stress”

(5) Văn hoá DNNVV có lẽ dồn về hình mẫu sản phẩm và phong cách giao dịch, bán hàng, các DNNVV của Hàn Quốc đã đạt đến mức văn hoá dân tộc khi sản phẩm dịch vụ của họ không lời giới thiệu, không nhãn mác người ta vẫn nhận thấy sản phẩm đó xuất xứ từ Hàn quốc, tương tự nhiều quốc gia cũng đạt đến ngưỡng đó bằng cách không làm sản phẩm giống nước khác về kiểu dáng, màu sắc, công dụng,…

(6) Để hình thành văn hoá doanh nghiệp, ngay từ đầu người chủ DNNVV cần ý thức được  giá trị bền vững của văn hoá, không tự ti, không áp đặt mà gương mẫu. Các tổ chức đoàn thể trong DNNVV cần nêu cao tinh thần văn hoá, tham gia giáo dục, vận động người lao động hướng vào giá trị nhân văn từ nội bộ doanh nghiệp đến thị trường mà doanh nghiệp tham gia.

4.5. Một số kiến nghị

4.5.1. Kiến nghị với Chính phủ

Thứ nhất, Xây dựng mối liên kết đồng thuận Chính phủ -hiệp hội-doanh nghiệp : Nhà nước phục vụ DNNVV giảm can thiệp và cai quản, Hiệp hội đại diện quyền lợi cho DNNVV là thành viên và hỗ trợ, DNNVV thực hiện luật pháp, cam kết và năng động với thị trường tìm kiếm lợi nhuận.

Bảng 4.5.  Mối liên kết Chính phủ -Hiệp hội-cộng đồng DNNVV

 

 

 

 

 

 

 

 

Các vấn đề quan  cùng quan tâm đến DNNVV

Hiệp hội trung ương và địa phương

Chính phủ, các bộ, UBND các cấp

DNNVV trong cả nước phân theo ngành

I. Thành lập, địa vị pháp lý

II. Các yếu tố đầu vào

III. Các yếu tố thị trường nội địa-xuất khẩu

IV. Chiến lược phát triển

-Tổng hợp và xử lý theo chức năng, quyền hạn, chi tiết hóa các biện pháp hỗ trợ

-Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền

-Rà soát khung pháp lý, đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp, ban hành chính sách theo thẩm quyền ;

- Chỉ định rõ cấp có trách nhiệm xử lý

- Kiến nghị sửa đổi Luật, đưa ra quan điểm phát triển mới

-Vận dụng tối đa lợi thế về chính sách và điều kiện hoạt động.

- Kiến nghị kịp thời với Hiệp hội và Chính phủ

 

Căn cứ vào bảng, có thể chi tiết hóa những vấn đề và cụ thể về thời gian.

Thứ hai, Sửa đổi Nghị định 90 về tiêu chí DNNVV theo hướng giữ mức trần “ có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người” gần thông lệ quốc tế nhưng có thể chia ra ngành, lĩnh vực, vùng lãnh thổ, đặt ra tiêu chí cụ thể để có ưu đãi riêng ví dụ như doanh nghiệp có vốn đăng ký dưới 100 triệu đồng, dưới 10 lao động có thể được xếp hàng đầu trong ưu đãi về  đào tạo,…

Thứ ba, Miễn tiền thuê đất có hạ tầng  cho DNNVV trong một thời gian ít nhất 5 năm. Khoản chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng và chi phí đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật của diện tích đất này được trừ vào tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất mà chủ đầu tư phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định. Đây là hỗ trợ gián tiếp không vi phạm cam kết WTO, tuy nhiên cũng cần có chế tài thu hồi đất đối với DNNVV không thực hiện cam kết thời gian triển khai dự án, việc thu hồi có thể diễn ra sau 6-12 tháng để giao cho DNNVV khác ; cho DNNVV nợ tiền thuê đất.

 

 

 

Thứ tư, Khuyến khích thành lập các công ty cổ phần mở kèm theo dự án đầu tư thu hút cổ đông là nhân dân vùng dự án (khu vực nông nghiệp và nông thôn) góp quyền sử dụng đất và tài sản khác. Có cơ chế “dồn điền, đổi thửa” thoả thuận chia lại đất đai vùng dự án để mọi người có cổ phần tối thiểu bằng quyền sử dụng đất, giảm áp lực công ty phải bồi thường đất đai. Mô hình giản lược như sau:

Sơ đồ 4.5 .Thành lập các công ty cổ phần mở kèm theo dự án đầu tư

 

 

 

Các Công ty cổ đông sáng lập công ty cổ phần đề xuất

Cổ đông nhân dân có quyền sử dụng đất vùng dự án, và có tài sản tham gia

Công ty cổ phần mới, dự án mới trên vùng đất của cổ đông

Cơ chế

chuyển đổi do địa phương  quy định

 nguyên tắc khung

 

 

 

 

Các tổ chức tài chính, tín dụng, quỹ, khách hàng cam kết tài trợ, tham gia dự án

 

 

 

Cơ chế định giá vốn góp, các quyền và nghĩa vụ do  cổ đông thoả thuận trong Điều lệ  công ty

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

Mô hình trên cần có thể ứng dụng ở quy mô nhỏ sau đó nhân rộng, chú trọng những dự án lớn có quy hoạch phát triển ngành, lãnh thổ và phân kỳ đầu tư, sau đó công ty cổ phần có thể liên kết, phân chia cấu phần dự án, kêu gọi các nhà đầu tư thuê đất tham gia vào dự án, hình thành tổ hợp dự án và tổ hợp DNNVV trên một vùng lãnh thổ hoạt động sản xuất công nghiệp và xây dựng, thương mại và dịch vụ; cố định diện tích sản xuất nông nghiệp nếu như nguồn thu từ trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản ổn định và phát triển.

Để tránh tự phát và “chạy dự án” đề nghị chính quyền cấp tỉnh nghiên cứu công khai thực hiện  kiến nghị này, bởi hiệu ứng của dự án sẽ lan toả tích cực theo hướng phát huy nội lực của DNNVV gắn với lợi ích cộng đồng.

Thứ năm, tập trung đào tạo chủ DNNVV đây là lực lượng quan trọng nhất, chương trình đào tạo phù hợp với 40% chủ DNNVV ở bậc học phổ thông. Có thể mở nhiều lớp học miễn phí, phát tài liệu và dùng các câu hỏi, bài tập trắc nghiêm, bài học tình huống mà nhóm học viên tự đưa ra và giải quyết. Chương trình học có thể được đưa lên các phương tiện truyền thông để nhiều người tham gia.

4.5.2. Kiến nghị đối với DNNVV

Chủ đề khoá luận tập trung vào quản lý nhà nước đối với DNNVV mà không đi sâu vào quản trị doanh nghiệp cho nên kiến nghị đối với DNNVV tham gia hoàn thiện chính sách khuyến khích phát triển DNNVV ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế :

(1) Tận dụng mọi ưu đãi khuyến khích phát triển DNNVV mà nhà nước giành cho DNNVV, thông qua thực hiện các chính sách khuyến khích hỗ trợ DNNVV có cơ hội tiếp cận với thị trường, mở rộng quan hệ với doanh nghiệp khác và bộ máy công quyền với ý nghĩa thu nạp được  “mối quan hệ và kinh nghiệm”. Để được hưởng chính sách khuyến khích đó  trước hết chủ doanh nghiệp và bộ máy quản lý  phải từ tìm hiểu thấu đáo và “gõ đúng cửa” đồng thời mở cửa tiếp nhận những thông tin hữu ích không nên thụ động và chờ đợi các khuyến khích ưu đãi tìm đến! Đó là kinh nghiệm của những DNNVV thành công khi nhận được ưu đãi về đất đai, thị trường, vốn,…

(2) Phân công và đãi ngộ cán bộ tiếp cận và vận động được những ưu đãi. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có trình độ quản trị doanh nghiệp, hỗ trợ cán bộ nhân viên học trên đại học, học thêm văn bằng bằng cách tạo thời gian và hỗ trợ học phí.

(3) Phát hiện những bất hợp lý trong chính sách phát triển DNNVV và kịp thời phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên diễn đàn với tinh thần xây dựng hơn là kiện tụng, vì phát hiện của DNNVV về  vướng mắc nào đó để nhà nước sửa đổi bổ sung chính sách có lợi cho cộng đồng doanh nghiệp.

(4) Cán bộ có kinh nghiệm quản lý phát triển DNNVV cần cộng tác với các  Trường đại học, Viện nghiên cứu, các  cơ quan truyền thông để trao đổi những vấn đề quản trị kinh doanh và chính sách của nhà nước, viết, biên soạn tài liệu để phổ cập dần trong cộng đồng DNNVV và công chúng nhất là giới trẻ.

(5) Giải tỏa tâm lý xã hội bằng kết quả và phân phối kết quả sản xuất kinh doanh cũng như xây dựng tinh thần văn hóa doanh nghiệp, doanh nhân để người lao động yên tâm làm việc, không mặc cảm tự ti,...

Nguồn: Nguyễn Văn Trung (Trích Khoá luận Cao học 2006)


Ý kiến của bạn
Họ tên   *
Địa chỉ
Email *
Nội dung
*
Cập Nhật Hủy
Các tin đã đưa
Chìm nổi cùng... rác - (22/07)
Thông báo Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) - (18/07)
Bỏ quên nông dân, không thể công nghiệp hóa vững chắc - (17/07)
Giải bài toán tích tụ ruộng đất: Lập “công ty nông nghiệp” - (17/07)
Bắc Ninh: HTX nông nghiệp Đồng Nguyên đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất - (17/07)
HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP LÀM DỊCH VỤ CHO NÔNG DÂN - (17/07)
CAO BẰNG: Hợp tác xã sử dụng vốn vay có hiệu quả - (16/07)
Cao Bằng:Hợp tác xã Thanh niên- Một bước tiến mới - (16/07)
In ấn  Nhận xét  Nhận xét  Gửi Email  Quay lại
Giới thiệu quảng bá